Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2014

48 Lời Nguyện của Phật A Di Đà

 

Kính chào toàn thể quí vị đồng tu A Di Đà Phật

 

 

 

Tủ sách Đạo Phật Ngày Nay

 

48 Lời Nguyện của Phật A Di Đà

 

48 Lời Nguyện của Phật A Di Đà 

 48 Vows of Amitabha Buddha
 1. Giả sử khi tôi thành Phật, nước tôi còn có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

1."Provided I become a Buddha, if in my Buddha-land there should be either hell, or the animal state of existence, or the realm of hungry ghosts, then may I not attain enlightenment.
2. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sau khi mạng chung còn trở lại ba ác đạo thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

2."Provided I become a Buddha, if the beings born in my Buddha-land should retrogress into the three evil realms, then may I not attain enlightenment.
3. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều thân màu vàng ròng thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

3."Provided I become a Buddha, if the beings born in my Buddha-land are not all of the color of genuine gold, then may I not attain enlightenment.
4. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sắc thân chẳng đồng có kẻ xấu người đẹp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

4."Provided I become a Buddha, if the beings who are born in my land are not all of identical appearance, without any distinction of noble looks or ugliness, then may I not attain enlightenment.
5. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng biết túc mạng, tối thiểu là biết sự việc trong trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

5."Provided I become a Buddha, if the beings born in my land are not possessed of the supernormal ability to remember their previous lives, and the ability to know the events of of a hundred thousand nayuta years of kalpas in the past, then may I not attain enlightenment.
6. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thiên nhãn, tối thiểu là thấy trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 


6."Provided I become a Buddha, if the beings who are born in my land do not possess of the divine-eye, which can see a hundred thousand nayuta of Buddha-lands, then may I not attain enlightenment.

7. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thiên nhĩ, tối thiểu là nghe lời thuyết pháp của trăm ngàn ức na do tha chư Phật và chẳng thọ trì hết, thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

7."Provided I become a Buddha, if the beings of my land do not possess the divine-ear, which can hear the Teachings of a hundred thousand kotis of nayuta of Buddhas, or do not faithfully observe those Teachings, then may I not attain enlightenment

8. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được tha tâm trí, tối thiểu là biết tâm niệm của chúng sanh trong trăm ngàn ức na do tha cõi nước, thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

8."Provided I become a Buddha, if the beings of my land do not all possess the intuitive-mind, which knows the thoughts of all beings of a hundred thousand kotis of nayuta of Buddha-lands, then may I not attain enlightenment.

9. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thần túc, tối thiểu là khoảng một niệm qua đến trăm ngàn ức na do tha nước Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

9."Provided I become a Buddha, if the beings of my land do not all possess the heavenly -step, which can of one thought travel over a hundred thousand kotis of nayuta of Buddha-countries in the shortest fraction of a moment, then may I not attain enlightenment.

10. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi nếu sanh lòng tưởng nghĩ tham chấp thân thể thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

10."Provided I become a Buddha, if there should arise in the minds of any beings in my land the idea of selfishness and covetous thoughts, even with regard to their own bodies, then may I not attain enlightenment.

11. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn ở nước tôi, chẳng an trụ định tụ quyết đến diệt độ thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

11."Provided I become a Buddha, if the beings of my land do not all firmly abide in a concentrated state of meditation and equanimity (samadhi) until they have reached nirvana, then may I not attain enlightenment.

12. Giả sử khi tôi thành Phật, quang minh có hạn lượng, tối thiểu chẳng chiếu đến trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

12."Provided I become a Buddha, if my light is limited in such a way that it cannot illuminate a hundred thousand nayuta of kotis of Buddha-lands, then may I not attain enlightenment.

13. Giả sử khi tôi thành Phật, thọ mạng có hạn lượng, tối thiểu là trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

13."Provided I become a Buddha, if the length of my life is limited, even to a hundred thousand nayuta of kotis of kalpas, then may I not attain enlightenment.

14. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thanh Văn trong nước tôi mà có người tính đếm được, nhẫn đến chúng sanh trong cõi Ðại Thiên đều thành bực Duyên Giác cùng nhau chung tính đếm suốt trăm nghìn kiếp mà biết được số lượng ấy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

14."Provided I become a Buddha, if any being is able to count the number of innumerable pupils in my land -- even if it takes a hundred thousand nayuta of kotis of kalpas for all the beings of three million worlds and the whole triple universe, after becoming Pratyeka-Buddhas, to count that number -- then may I not attain enlightenment.

15. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi thọ mạng không ai hạn lượng được, trừ họ có bổn nguyện dài ngắn tự tại. Nếu chẳng như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

15."Provided I become a Buddha, if the lives of the beings in my land are not eternal, except by their own free will whenever they choose to pass away from life, then may I not attain the enlightenment.

16. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi mà còn nghe danh từ bất thiện thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

16."Provided I become a Buddha, there will be no evil or sinful existence in my land; even its very name will be unknown. Otherwise, may I not attain enlightenment.

17. Giả sử khi tôi thành Phật, mười phương vô lượng chư Phật chẳng đều ngợi khen xưng tụng danh hiệu của tôi thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

17."Provided I become a Buddha, if the innumerable Buddhas of the worlds of ten quarters do not glorify my name, then may I not attain the enlightenment.

18. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương chí tâm tin ưa muốn sanh về nước tôi nhẫn đến mười niệm, nếu không được sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

18."Provided I become a Buddha, if any sentient being in the ten quarters who hears my name and is thus awakened to the highest faith and aspires toward rebirth in my land, recollects that thought for as few as ten times, that being will be reborn there, with the exception of those who have committed the five grave offenses, or who have blasphemed the Dharma. Otherwise, may I not attain enlightenment.
19. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương phát Bồ đề tâm, tu các công đức chí tâm phát nguyện muốn sanh về nước tôi. Lúc họ mạng chung, tôi và đại chúng vây quanh hiện ra trước mặt họ. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

19."Provided I become a Buddha, then at the moment of death of any sentient being in the ten quarters who has directed his thoughts towards the Bodhi and has cultivated his stock of various merits with a fervent desire for rebirth in my land, if I do not appear with an assembly of retinue before him, then may I not attain enlightenment.
20. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương nghe danh hiệu của tôi, chuyên nhớ nước tôi, trồng những cội công đức, chí tâm hồi hướng muốn sanh về nước tôi mà chẳng được toại nguyện thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

20."Provided I become a Buddha, if any sentient being of ten quarters hears my name and then constantly longs for my land and cultivates various essential merits for the purpose of realizing his earnest wish to be born in my country, and then fails to attain that wish, then may I not attain enlightenment.

 21. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều đầy đủ ba mươi hai tướng đại nhơn thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

21."Provided I become a Buddha, if any sentient being in the ten quarters is not endowed with a glorious body perfected with the thirty-two attributes (laksanani) of a great being, then may I not attain enlightenment.
22. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cõi nước khác sanh về nước tôi rốt ráo tất cả đến bực nhứt sanh bổ xứ. Trừ người có bổn nguyện tự tại hóa độ, vì chúng sanh mà mặc giáp hoằng thệ chứa công đức độ tất cả, đi qua các nước Phật tu hạnh Bồ Tát, cúng dường chư Phật mười phương, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh khiến họ đứng nơi đạo chánh chơn vô thượng, vượt hơn công hạnh của hạng tầm thường, hiện tiền tu công đức Phổ Hiền. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

22."Provided I become a Buddha, the Bodhisattvas whose activities have surpassed the stage of ordinary beings, who practice the universal virtue of Universal Worthy Boddhisatva, and who come to be born in my land will be subject to that one birth only, and then will become Buddha-elect (ekajatipratibuddhas), with the exception of those who, by their own free will, wish to remain in the stage of Bodhisattvahood to serve the Buddhas of ten quarters for the sake of delivering various beings. Then they will wear the armor of their vows and will travel to all worlds, performing their Bodhisattva's duties and accumulating their stock of merit, converting the various beings whose numbers are as great as the grains of sand of the River Ganges to the highest perfect knowledge. Otherwise may I not attain enlightenment.
23. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi thừa thần lực Phật đi cúng dường chư Phật, khoảng bữa ăn nếu không đến khắp vô số vô lượng ức na do tha cõi nước thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

23."Provided I become a Buddha, if those Bodhisattvas in my land, through the Grace of the Buddha, are not able to serve all the Buddhas throughout the countless nayuta of Buddha-worlds within a less than a moment, then may I not attain the enlightenment.
24. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi ở trước chư Phật hiện công đức mình, nếu những thứ dùng để cúng dường không có đủ theo ý muốn thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

24."Provided I become a Buddha, if any Bodhisattva in my land wishes to use his stock of merit to produce any object to be used before the Buddhas, and if such an object does not appear before him to his satisfaction, then may I not attain enlightenment.
 25. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng thể diễn nói nhứt thiết trí thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

25."Provided I become a Buddha, if Bodhisattvas in my land are not able to preach the law of wisdom to completion, then may I not attain enlightenment.
26. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng được thân Kim Cương Na la diên thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

26."Provided I become a Buddha, if any Bodhisattva in my land does not possess a golden body as strong as the diamond of Narayana, then may I not attain enlightenment.
27. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn và tất cả vạn vật trong nước tôi trang nghiêm thanh tịnh sáng rỡ hình sắc đặc biệt lạ lùng vi tột diệu không ai lường biết được, dầu là có thiên nhãn mà biện biệt được danh số ấy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

27."Provided I become a Buddha, the heavenly beings and the various properties produced in my land shall all be of supreme beauty and shall abound in boundless quantity, and in an infinity of various forms. If any being therein, even one who even possesses the divine-eye, is able to perceive all the appellations and quantity of such beauties, then may I not attain the enlightenment.
28. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi, nhẫn đến người công đức ít nhứt mà chẳng thấy biết đạo tràng thọ màu sáng vô lượng cao bốn trăm muôn dặm thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

28."Provided I become a Buddha, if any Bodhisattva of my land who possesses even the slightest stock of merit does not perceive the boundless shining beauty of the Bodhi-trees of my sanctuary, their height being at least four million miles, then may I not attain enlightenment.
29. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi nếu đọc tụng thọ trì diễn thuyết kinh pháp mà chẳng được trí huệ biện tài thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

29."Provided I become a Buddha, if the Bodhisattvas of my land do not all possess the wisdom of eloquent oration after having read, recited, and observed the Dharma of the Sutras, then may I not attain the enlightenment.
30. Giả sử khi tôi thành Phật, trí huệ biện tài của Bồ tát trong nước tôi mà có hạn lượng thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

30."Provided I become a Buddha, if the Bodhisattvas of my land are limited in the wisdom of their oration, then may I not attain enlightenment.
31. Giả sử khi tôi thành Phật, nước tôi thanh tịnh soi thấy tất cả vô lượng vô số bất khả tư nghị thế giới chư Phật mười phương, như gương sáng soi hiện hình gương mặt, nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

31."When I have obtained the Buddhahood, if my land is not so reflective and raidant that it reflects the miniatures of the innumerable, inconceivable and boundless Buddha-worlds in all the ten quarters as clearly as one's face is seen in a bright mirror, then may I not attain enlightenment.
32. Giả sử khi tôi thành Phật, từ mặt đất lên đến hư không, những cung điện, lâu đài, ao nước, cây hoa, tất cả vạn vật trong nước tôi đều dùng vô lượng châu báu, trăm ngàn thứ hương hiệp lại làm thành xinh đẹp kỳ lạ hơn hàng thiên nhơn. Hương ấy xông khắp vô lượng thế giới mười phương. Bồ Tát nghe mùi hương ấy đều tu hạnh Phật. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

32."After I have obtained Buddhahood, there shall be in my land magnificent palaces towering up from the ground to the void, also lakes, winding streams, blossoming trees, and myriad other properties which are compounded of various jewels and thousands of kinds of perfumes, minutely embellished in the most wondrous state, surpassing all heavenly and human worlds. And the scent of perfumes shall thoroughly pervade the worlds of ten quarters in such a way that when Bodhisattvas smell them, their minds are directed to Bodhi. Otherwise, may I not attain enlightenment.
33. Giả sử khi tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương, được quang minh tôi chiếu đến thân, thân họ nhu nhuyến hơn hẳn hàng thiên nhơn. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

33."When I obtain the Buddhahood, if the body of any sentient being in the boundless and inconceivable Buddha-worlds in any of the ten quarters is touched by the rays of my splendor, and if that being's body and mind do not then become gentle and peaceful, in a state that is far more sublime than those of the gods and men, then may I not attain enlightenment.
34. Giả sử khi tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi mà chẳng được Bồ Tát vô sanh pháp nhẫn các thâm tổng trì thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

34."When I obtain Buddhahood, if the beings of boundless and inconceivable Buddha-worlds do not attain the "Endurance of Nirvanic Life" (ajatah sarvadharmah) of Bodhisattva, and the deep knowledge of "Adharanamudro" (or dharani) afterhearing my name, then may I not attain enlightenment.

35. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng nữ nhơn của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi vui mừng tin ưa phát tâm Bồ đề nhàm ghét thân người nữ, nếu sau khi chết mà họ còn sanh thân người nữ lại thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

35."When I obtain Buddhahood, women in boundless and inconceivable Buddha-worlds across the ten quarters will hear my name and will thereby been awakened in faith and joyful aspiration. Turning their minds towards Bodhi, they will dislike their own female lives, and then, when they are born again, in their next life they will be reborn in male bodies. Otherwise may I not attain enlightenment.

36. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát trong vô lượng bất tư nghì thế giới mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi sau khi thọ chung thường tu phạm hạnh đến thành Phật đạo. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

36.When I obtain Buddhahood, the Bodhisattvas of boundless and inconceivable Buddha-worlds across the ten quarters, having heard my name, after their death [in their next life] will still continue their Bodhisattva-duty until they have obtained Buddhahood. Otherwise, may I not attain enlightenment.
37. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn trong vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi rồi năm vóc gieo xuống đất cúi đầu vái lạy vui mừng tin ưa tu hạnh Bồ Tát thì được chư Thiên và người đời đều kính trọng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

37.When I obtain Buddhahood, the heavenly beings of the boundless and inconceivable Buddha-worlds across the ten quarters, having heard my name, will worship me with prostrate reverence, and will joyfully and faithfully perform their Bodhisattva-duty, and will be honored by gods and men. Otherwise, may I not attain enlightenment.
38. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi muốn được y phục liền tùy nguyện hiện đến, y phục đẹp đúng pháp như Phật khen ngợi tự nhiên mặc trên thân. Nếu còn phải may cắt nhuộm giặt thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

38.When I obtain the Buddhahood, the heavenly beings of my land, should they desire a garment, will be able to perceive themselves, as quick as thought, covered by apparitionally produced costumes, excellent to their satisfaction, worthy to be praised by the Buddha, without the work of sewing, washing, dying, and so on. Otherwise, may I not attain enlightenment.
39. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi hưởng thọ khoái lạc chẳng như bực lậu tận Tỳ Kheo thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

39."When I attain the Buddhahood, if the heavenly beings of my land do not enjoy happiness as great as that of the holy bhikkhus, then may I not attain enlightenment.
40. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát nước tôi tùy ý muốn thấy vô lượng nước Phật trang nghiêm thanh tịnh mười phương thì liền được toại nguyện, đều được soi thấy ở trong những cây báu, như thấy mặt mình hiện rõ trong gương sáng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

40."When I attain Buddhahood, if the Bodhisattvas of my land wish to see the boundless, holy, pure Buddha-worlds of the ten quarters, they will at once behold them from the jewel-trees as though their faces were being reflected in a highly burnished, brilliant mirror. Otherwise, may I not attain the enlightenment.
41. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, từ đó đến lúc thành Phật nếu các căn thân còn thiếu xấu chẳng được đầy đủ thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

41."When I attain the Buddhahood, if the Bodhisattvas of other worlds, after having heard my name, suffer from any diminution in the functional powers and are not endowed with all sense-organs in completion before reaching the Buddhahood, then may I not attain enlightenment.
42. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được thanh tịnh giải thoát tam muội, khoảng một lúc phát ý, cúng dường vô lượng bất khả tư nghị chư Phật Thế Tôn, mà không mất tâm chánh định. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

42."When I obtain the Buddhahood, if the Bodhisattvas in other Buddha-lands whohear my name do not all attain, in one moment of thought, the pure samadhi of emancipation from which they could serve innumerable and inconceivable number of Buddhas [Tathagatas], or if their of their samadhi should come to an end meanwhile, then may I not attain enlightenment.
43. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, sau lúc thọ chung sanh nhà tôn quý. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

43."After I have obtained the Buddhahood, if any Bodhisattva of another land hears my name, that Bodhisattva will, after death, be reborn as a member of a noble family if he or she so desires. Otherwise, may I not attain enlightenment.
44. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi vui mừng hớn hở tu hạnh Bồ Tát đầy đủ cội công đức. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

44."When I obtain the Buddhahood, the Bodhisattvas of other lands, having heard my name, will all obtain a combination of full virtues and will joyfully perform their Bodhisattva-duty. Otherwise, may I not attain enlightenment.
45. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được phổ đẳng tam muội, an trụ trong tam muội nầy đến lúc thành Phật thường thấy vô lượng bất khả tư nghị tất cả chư Phật. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

45."When I have obtain Buddhahood, all Bodhisattvas of other lands who hear my name will obtain the samantanugata (the thoroughly and equal samadhi in a fixed state of meditation). Through that samadhi, they will see innumerable and inconceivable Buddhas constantly until they have obtained the Buddhahood. Otherwise may I forbear from obtaining enlightenment.

46. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở trong nước tôi tùy chí nguyện của mỗi người muốn được nghe pháp liền tự nhiên được nghe. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

46."When I obtain Buddhahood, the Bodhisattvas of my land shall be able to hear the Teaching of the Dharma whenever they desire. (The voices of teaching will present themselves naturally to their ears). Otherwise may I refrain from attaining enlightenment.
47. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đến bực bất thối chuyển thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

47."When I obtain Buddhahood, if Bodhisattvas of other lands, after having heard my name, do not immediately reach the state of never turning back from Bodhi, then I will refrain from attaining enlightenment.
48. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đệ nhứt nhẫn, đệ nhị nhẫn và đệ tam pháp nhẫn, nơi các Phật pháp chẳng liền được bực bất thối chuyển thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

48."When I have obtained Buddhahood, if Bodhisattvas of other lands who hear my name, do not reach the first, second, and third degrees of Dharma-endurance immediately, or if they turn back from the Buddha Dharma, then I will refrain from attaining enlightenment.

 

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Thứ Bảy, 28 tháng 12, 2013

ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT NIỆM PHẬT VIÊN THÔNG CHƯƠNG

Kính chào toàn thể quí vị đồng tu A Di Đà Phật

 

Niệm Phật Viên Thông Chương
ĐẠI PHẬT ĐẢNH THỦ LĂNG NGHIÊM KINH
ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT NIỆM PHẬT VIÊN THÔNG CHƯƠNG
Ngài Đại Thế Chí Pháp Vương Tử, cùng với năm mươi hai vị Bồ Tát đồng tu pháp môn Tịnh Độ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, mà bạch Phật rằng:  Con nhớ hằng hà sa kiếp trước, có đức Phật ra đời, danh hiệu là Vô Lượng Quang.  Trong một kiếp có mười hai đức Như Lai kế nhau thành Phật, vị thành Phật sau cùng danh hiệu là Siêu Nhật Nguyệt Quang.  Đức Phật kia chỉ dạy con pháp Niệm Phật Tam Muội.  Thí như có người, một người chuyên nhớ, một người chuyên quên, hai người như thế, nếu có gặp nhau cũng như không gặp, dầu có thấy nhau cũng như không thấy.  Nếu hai người đều tưởng nhớ nhau, cả hai người càng nhớ càng khắc sâu trong lòng.  Như thế từ đời này cho đến đời khác, như hình với bóng, không cách xa nhau.  Mười phương Như Lai, thương nhớ chúng sanh, như mẹ nhớ con.  Nếu con bỏ trốn, tuy rằng tưởng nhớ chẳng có ích gì?  Nếu con nhớ mẹ, như mẹ thường nhớ con, mẹ con đời đời kiếp kiếp không cách xa nhau.  Nếu tâm của chúng sanh, nhớ Phật niệm Phật, hiện tiền hay tương lai, nhất định sẽ thấy được Phật, cách Phật không xa, không cần dùng phương pháp nào khác, thì tự tâm được khai ngộ.  Như người ướp hương, thì thân có mùi thơm, ấy gọi là Hương Quang Trang Nghiêm.  Pháp tu nhân địa của con là chuyên tâm niệm Phật, chứng nhập pháp Vô Sanh Nhẫn.  Nay ở cõi Ta Bà này, rộng độ những người niệm Phật, vãng sanh về Tịnh Độ.  Phật hỏi về chứng đắc viên thông, con không lựa chọn, đều nhiếp lục căn, tịnh niệm kế tiếp, được vào Tam Ma Địa, đó là thù thắng nhất.

Việt dịch: Pháp Sư Minh Nhẫn

Nhạc Kinh: Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương Video
QUY TẮC TU HỌC
Lời khai thị của ẤN QUANG ĐẠI SƯ
Bất luận là người tu tại gia hay xuất gia, cần phải trên kính dưới hòa, nhẫn nhục điều người khác khó nhẫn được, làm những việc mà người khác khó làm được, thay người làm những việc cực nhọc, thành toàn cho người là việc tốt đẹp. Khi tĩnh tọa thường nghĩ đến điều lỗi của mình. Lúc nhàn đàm đừng bàn đến điều sai trái của người. Lúc đi đứng nằm ngồi ăn mặc, từ sáng đến tối từ tối đến sáng, chỉ niệm Phật hiệu không để gián đoạn: hoặc niệm nho nhỏ, hoặc niệm thầm.
          Ngoài việc niệm Phật, đừng dấy khởi một niệm nào khác. Nếu khởi vọng niệm, phải tức thời bỏ ngay. Thường có lòng hổ thẹn và tâm sám hối. Nếu đã tu trì, phải tự hiểu là công phu của ta hãy còn nông cạn, chẳng nên tự kiêu căng, khoa trương, chỉ nên chăm sóc việc nhà mình mà đừng nên dính vào việc nhà người. Chỉ nên nhìn đến những hình dạng tốt đẹp mà đừng để mắt tới hình dạng xấu xa bại hoại. Hãy coi mọi người đều là Bồ tát, mà ta chỉ là kẻ phàm phu.
           Nếu quả có thể tu hành được như những điều kể trên, thì nhất định được sinh về Tây Phương Cực Lạc Thế Giới.

Cư sĩ Bùi Dư Long dịch


PHƯƠNG PHÁP NIỆM 10 DANH HIỆU
A DI ĐÀ PHẬT 

Phương pháp niệm 10 danh hiệu A-Di-Đà Phậý muốn từng người. Chúng ta lặp lại công phu nầy 8 lần nữa trong một ngày. Như vậy, chúng ta công phu theo phương pháp nầy 9 lần trong mỗi ngày. Thời gian đó được đề nghị như sau:

1. Ngay khi vừa thức giấc buổi sáng sớm.
t là phương pháp đơn giản, lợi ích thiết thực trong việc hành trì pháp môn niệm Phật. Đặc biệt thích hợp với những người ít có thời gian tu tập. Hành trì theo phương pháp nầy sẽ giúp cho chúng ta nhất tâm chánh niệm A-Di-Đà Phật và giúp cho chúng ta an lạc thanh thản ngay trong giây phút hiện tại. Thời khóa hành trì được bắt đầu khi chúng ta thức giấc vào sáng sớm. Chúng ta ngồi thẳng người và niệm rõ ràng danh hiệu A-Di-Đà Phật 10 lần với tâm chánh niệm, niệm lớn tiếng hay niệm thầm tùy theo
2. Trước khi bắt đầu dùng điểm tâm.
3. Sau khi dùng điểm tâm.
4. Trước khi làm việc chính trong ngày.
5. Trước khi ăn trưa.
6. Sau khi ăn trưa.
7. Trước khi ăn tối.
8. Sau khi ăn tối.
9. Lúc đi ngủ.

Quan trọng nhất là hành trì đều đặn. Sự gián đoạn, không kiên nhẫn khi hành trì sẽ làm giảm hiệu lực tác dụng. Nếu hành trì liên tục, tinh cần thì người tu sẽ thấy càng ngày thân tâm càng gia tăng niềm an lạc.
Tinh tấn hành trì phương pháp niệm 10 danh hiệu A-Di-Đà Phật kết hợp với niềm tin và bản nguyện chân chính không thay đổi, chắc chắn bảo đảm tâm nguyện vãng sinh cõi Tây phương Cực Lạc, cõi Vô lượng thọ, Vô lượng quang sẽ được thành tựu. Nguyện rằng mọi người đều cùng nhau tu tập. 

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

Trích: Nhận Thức Phật Giáo

Tịnh Không Pháp Sư giảng
Bản dịch Việt ngữ: Thích Nhuận Châu

Tịnh thất Từ Nghiêm - Đại Tòng Lâm
 PL.2547 - DL.2003

Kệ Niệm Phật
Nam Mô A-Di-Đà
Không gấp cũng không huỡn
Tâm tiếng hiệp khắn nhau
Thường niệm cho rành rõ. 
Nhiếp tâm là Định học.
Nhận rõ chính Huệ học.
Chánh niệm trừ vọng hoặc.
Giới thể đồng thời đủ. 
Niệm lực được tương tục
Đúng nghĩa chấp trì danh
Nhất tâm Phật hiện tiền
Tam-muội Sự thành tựu. 
Đương niệm tức vô niệm
Niệm tánh vốn tự không
Tâm làm Phật là Phật
Chứng Lý Pháp thân hiện. 
Nam mô A-Di-Đà
Nam mô A-Di-Đà
Cố gắng hết sức mình
Cầu đài sen thượng phẩm.
Phật lịch 2500 – Dương Lịch 1956
Hân Tịnh Tỷ-Kheo
Thích Trí Tịnh
biên soạn
Ban biên tập vi tính & trình bày:
www.thondida.com

                    Cập nhật: 09-10-2008

Thứ Hai, 16 tháng 12, 2013

Phật giáo là gì
Điều trước nhất xin được phép thưa rằng: Phật giáo được sáng lập trên căn bản trí tuệ, lấy trí tuệ làm nền tảng để giải thoát con người. Cũng vì vậy Phật giáo được xem là đáp số thích hợp và gần gũi với khoa học về những quy luật tự nhiên của cuộc sống. Phật giáo chủ trương công bằng, con người có quy luật nhân quả (Dhamma niyama) tức là con người là chủ nhân của chính mình. Phật giáo cũng lại chủ trương xóa bỏ những nỗi lo sợ vu vơ về sự chết thường ám ảnh con người.

Phật giáo không phải là một tín ngưỡng có hệ thống, lấy đức tin và tôn sùng lễ bái làm cứu cánh. Phật giáo không trung thành với một thần linh hay siêu nhiên nào? Phật giáo khuyên con người tự phát triển khả năng và trí tuệ của chính mình. Phật giáo không tin tưởng ở một quyền lực cao siêu nào có thể quyết định được vận mệnh của con người.


Phật học không những thích hợp với khoa học mà còn bổ sung những khiếm khuyết của khoa học”. Phật giáo mang tính chất thiết thực gần như khoa học. Phật giáo là bánh xe, chiếc xe hay cái bè, cái thuyền để chuyển tải con người thoát khỏi bể khổ luân hồi. Phật giáo và khoa học hỗ tương cho nhau. Vì vậy, Phật giáo không đòi hỏi nơi người Phật tử có một đức tin mù quáng. Phật giáo khuyến khích và chủ trương tự do bình đẳng, phù hợp với lý trí và thời đại. Phật giáo độ sinh chứ không độ tử.


Phật giáo không đòi hỏi lòng tin mù quáng vào những giáo điều hay tín điều; trái lại, Phật giáo khuyến khích con người chứng nghiệm giáo lý qua trí tuệ suy xét và qua kinh nghiệm của chính bản thân mình. Nói một cách khác đó là “chánh kiến” (Sammaditthi). Đức Phật dạy: “Không nên tin những lời đồn đại”. Vì Phật giáo là một giáo lý thực tiễn, một phương tiện giải thoát mà theo danh từ Pali gọi là: “Dhamma”:”


Đức Phật còn dạy rằng: việc hoài nghi là quyền của con người. Người phật tử không làm nô lệ cho một cá nhân nào hay một quyển sách nào; không nên nhắm mắt tin càn về những điều mình còn hoài nghi. Phật giáo không phải là siêu hình. Phât giáo không phải là một chủ nghĩa độc đoán, độc thần hay hoài nghi. Phật giáo tin rằng con người có kiếp luân hồi.


Phật giáo là một nền giáo dục trí huệ, nhân bản vô lượng vô biên, căn cứ vào nguyên lý và hiện tượng của vũ trụ. Nền giáo dục mà đức Phật dẫn dắt và chỉ dạy cho chúng sinh hài hòa âm dương, sống khiêm tốn và suy nghĩ linh hoạt. Khuyên con người làm những điều phúc đức, tốt lành trong xã hội và trong đời sống cá nhân hàng ngày từ những việc nhỏ nhất cho đến việc lớn nhất, vĩ đại nhất, dựa trên phương diện thời gian, không gian và bao hàm cả quá khứ - hiện tại- và tương lai. Nền giáo dục đó dạy chúng ta dùng trí tuệ để nhận xét sự việc làm chuẩn.


Phật Giáo là nền giáo dục của Phật Ðà, là nền giáo dục chí thiện viên mãn đối với chúng sanh. Nội dung của nền giáo dục này bao gồm sự kiện và trí tuệ vô tận vô biên, so với nội dung quá trình Ðại Học hiện đại còn nhiều hơn. Về mặt thời gian nó nói đến quá khứ, hiện tại và tương lai. Về mặt không gian, nó nói đến cuộc sống trước mắt của chúng ta, suy diễn đến cái thế giới vô tận. Cho nên, nó là giáo học, là giáo dục chẳng phải là tôn giáo. Nó là nền giáo dục giác ngộ vũ trụ nhân sinh. Học Phật là sự thụ hưởng tối cao của đời người. Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy rằng:


“Chỉ có ta làm điều tội lỗi, chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm.
Chỉ có ta làm ta tránh được điều tội lỗi, chì có ta gội rửa cho ta.
Trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta.
Không ai có thể làm cho người khác trở nên trong sạch”.


Đức Phật đã chỉ cho chúng ta con đường đi tìm sự thực là chân lý xuyên qua tu tập của người Phật tử chân chính dùng Trí Tuệ -- Giới Hạnh – Chế Ngự nhất là phải dùng tâm trí và cương quyết để thắng dục vọng. Từ vô minh dần dà làm nghiệp lực hao mòn dẫn đến tham dục.
Muốn thắng vô minh – dục vọng,chúng ta cần phải luyện tập một cách công phu và thực hành đúng . Phương pháp đó không ngoài Phật pháp, bằng cách có một tư duy chân chính theo gương đức Thế Tôn, trải qua chặng đường giác ngộ với tinh thần tự lực và quyết tâm sống đạo đức, luôn luôn dùng trí tuệ để cân nhắc và giải quyết mọi sự việc. Ngoài ra, người Phật tử phải có từ tâm (metta) và bao dung (karuna). Chính từ tâm và lòng bao dung của đạo Phật là nền tảng của một xã hội tiến bộ, trong đó con người được đối xử bình đẳng với nhau, giải tỏa được nỗi khổ đau khắc khoải của đời người như những lời dạy của đức Phật trong “Tam Tạng Kinh” (Tipitaka) gồm cả tri thức- đạo đức và tinh thần. Chúng ta, những người xuất gia hay tại gia luôn luôn nhớ lời đức Phật dạy là ánh sáng, là đuốc soi đường để chúng ta hành trì. Có như thế mới là người con Phật giác ngộ.


Chúng ta còn có bổn phận làm theo lời đức Phật dạy là luôn làm công viêc bố thí, pháp thí, vô úy thí. Vì không có công đức nào lớn nhất và cũng không có công đức nào sánh bằng. Giảng kinh, thuyết pháp, viết bài, viết sách nói về Phật hay in kinh sách đem phân phát cho mọi người. Bố thí tiền bạc, vật dụng cho những người nghèo khó, túng quẫn, sa cơ lở bước …. là một hạnh phúc tuyệt vời. Việc làm này có giá trị và có lợi ích vô biên không có gì sánh bằng vì đó là hoài bão và tâm nguyện của chúng ta.


Những lời chỉ dạy của đức Phật tuy không đi sâu vào khoa học, triết học nhưng những luận lý cao siêu về vũ trụ, xã hội, nhân sinh và con người Ngài đã đi trước các học giả và các nhà khoa học hiện đại.


Tóm lại, có nhiều cách định nghĩa Phật giáo? Nhưng định nghĩa cách nào chúng ta cũng nên nhớ câu: “Tất cả vì Phật pháp, tất cả vì chúng sinh!”. Những lời dạy của đức Phật cách đây đã trên 2500 năm, nhưng đến ngày nay và hiện tại bây giờ, bước qua thế kỷ 21 vẫn còn hiệu lực thực dụng. Và những điều nầy đã được các nhà hiền triết và các nhà tri thức đếu phải công nhận đó là chân lý. Nói một cách khác Phật giáo là một chân lý trường tồn không có gì có thể đổi thay được./.
Suu tam tu: Thích Đức Tĩnh 



Tủ sách Đạo Phật Ngày Nay 

            ===>Xin xem thêm tập tin 

**********************************************************************************************************************************************************************





MƯỜI BỐN ĐIỀU RĂN CỦA PHẬT

1.- Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình.
2.- Ngu dốt lớn nhất của đời người là dối trá.

3.- Thất bại lớn nhất của đời người là tự đại.

4.- Bi ai lớn nhất của đời người là ganh tỵ.

5.- Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất mình.

6.- Tội lỗi lớn nhất của đời người là bất hiếu.

7.- Đáng thương lớn nhất của đời người là tự ty.

8.- Đáng khâm phục lớn nhất của đời người là vươn lên sau khi ngã.

9.- Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng.

10.- Tài sản lớn nhất của đời người la sức khỏe, Trí Tuệ.

11.- Món nợ lớn nhất của đời người là tình cảm.

12.- Lễ vật lớn nhất của đời người là khoan dung.

13.- Khiếm khuyết lớn nhất của đời người là kém hiểu biết.

14.- An ủi lớn nhất của đời người là bố thí.

 
Trích lời kinh Phật

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2013

Pháp Thoại Cư Sĩ Diệu Âm

Tổng Hợp Các Bài Pháp Thoại Của Cư Sĩ Diệu Âm

Video

Cư Sỉ Diệu Âm chùa Hoằng Pháp 2010
| 1 Tập |

Video
Cư Sĩ Diệu Âm, tại Âu châu 2013
| Tập 1 | Tập 2 | Tập 3 | Tập 4 | Tập 6 | Tập 7 | Tập 8 | Tập 9 | Tập 10 | Tập 11 | Tập 12 | Tập 13 | Tập 14 | Tập 15 | Tập 16 | Tập 17 |

Video

Pháp Thoại Tại Hà Lan
| Tập 1 | Tập 2 |

Video

Pháp Thoại Tại Tiệp Khắc
| Tập 1 | Tập 2 | Tập 3 |

Video

Nói Chuyện với các liên hửu khắp nơi
| Tập 1 | Tập 2 | Tập 3 |

Video

Khuyên Người Niệm Phật-Ðạo Tràng Chúng
| Tập 1 | Tập 2 | Tập 3 |

Video

Tọa Đàm Tại Chùa Từ Xuyên
| Tập 1 | Tập 2 | Tập 3 |

Video

Tọa Đàm tại Niệm Phật Đường Liên Trì
| Tập 1 | Tập 2 |

Video

Tọa Đàm tại Chùa Long Thọ
| Tập 1 | Tập 2 |

Video
Tọa Đàm tại Chùa Ba Vàng, Hà Nội
| Tập 1 | Tập 2 | Tập 3 | Tập 4 |

Video

Cư Sĩ Diệu Âm Tọa Đàm tại Tịnh Tông Học Hội Oregon
| Tập 1 | Tập 2 |

Video

Niệm Phật Ðường Tại ViệtNam - Hộ Niệm Cần Chú Ý
| Tập 1 | Tập 2 |

Video

Buổi Tọa Đàm Tại Lynnwood
| Tập 1 | Tập 2 |

Video

Chùa Thanh Hải - Ðà Nẵng
| Tập 1 | Tập 2 |

Video

Ðạo tràng Liên Hoa (Cà Mau)
| Tập 1 | Tập 2 |

Video

Khuyên Người Niệm Phật Tại Chùa Đức Hòa
| 1 Tập |

Video

Chùa Viên Quang - Xác quyết niềm tin vào Pháp Niệm Phật
| 1 Tập |

Video

Chùa Long Khánh - Qui Nhơn
| 1 Tập |

Video

Tọa Ðàm tại Chùa Phổ Thiện Hòa
| 1 Tập |