Hiển thị các bài đăng có nhãn Chư Bồ Tát. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chư Bồ Tát. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 27 tháng 12, 2012

Bát Đại Hộ Pháp



Một điều khó hiểu của Phật giáo đó là sự xuất hiện của các dạng hình tướng phẫn nộ, khủng khiếp...Có thể nói đó là những hình tướng xấu xí, ghê rợn đến sởn tóc gáy, và những hình tướng phẫn nộ này dường như đi ngược lại với tinh thần Phật Giáo.

Những hình tướng này không hề là biểu tượng cho cái ác hay là tượng trưng cho một ma lực nào đó...Mà thay vào đó chính là tượng trưng cho sự dũng mãnh của thực tại căn bản của vũ trụ nói chung, và tượng trưng cho tâm thức của con người nói riêng.


Ngoài ra đó còn là sự tiêu diệt những mê muội hư vọng của tâm thức con người, và mục đích của các vị còn là sự bảo hộ cho lòng tín, đức tin. Những hộ thần phẫn nộ là những tượng trưng cho sự chế ngự dục vọng, đánh bại những điều xấu xa.


Những hộ thần thường có thân hình chắc nịch, ngắn nhưng dày... nhiều vị còn có nhiều đầu nhiều tay. Màu sắc của khuôn mặt các ngài thường đựơc hay so sánh với màu mây, màu đá quý...Đó là lý do tại sao trong các sadhanas hay có những đoạn so sánh một vị hộ thần màu đen như đám mây xuất hiện cuối trời, hay là xanh như màu ngọc lục bảo, hoặc trắng như một ngọn núi pha lê, màu vàng như vàng ròng, hoặc màu đỏ như là những tia nắng nơi ngọn núi san hô đỏ...Trong các sadhanas cũng có nói rằng các ngài phủ đầy người một lớp tro của các buổi lễ trộn với dầu mè hoặc là phủ khắp người những vết mỡ, những đốm máu và mỡ người.


Khuôn mặt của các ngài thường có những biểu hiện như sau : miệng mở một cười giận dữ, từ đó ló ra những chiếc răng nanh - người ta hay nói những chiếc nanh đó được làm bằng đồng hoặc sắt. Những con mắt đỏ ngầu đầy máu biểu lộ cho sự phẫn nộ. Thường thì các ngài có 3 mắt.


Điều quan trọng nhất trong nhóm các hộ thần đó chính là nhóm 8 vị, được biết đến như là các hộ pháp chính của Phật giáo Tây Tạng ( Bát Đại Hộ Pháp ), các hộ pháp này được xem như những vị bồ tát, và các ngài có nhiệm vụ chiến đấu một cách không khoan nhượng với bất kì thế lực ma quỷ nào cũng như những kẻ thù của Phật giáo .


Họ bao gồm :


* Yama ( Dạ Ma )

* Mahakala ( Đại Hắc Thiên )
* Yamantaka ( Hàng Phục Dạ Ma )
* Kubera ( Tài Bảo Thiên Vương )
* Hayagriva ( Mã Đầu Minh Vương )
* Palden Lhamo ( Vị Nữ Thần )
* Tshangs pa ( Phạm Thiên Trắng)
* Begtse ( Thần Chiến Tranh )




Yama: ( Dạ Ma ) Thần chết






Dựa trên những truyền thuyết về nguồn gốc của Yama, một người đàn ông được một vị thánh cho biết rằng nếu ông ta nhập định 50 năm ở trong 1 hang động, ông ta có thể đạt được giác ngộ.

Thời gian cứ thế trôi đi, đúng vào đêm ngày thứ 29 của tháng thứ 11 của năm thứ 49. Hai tên trộm đã chạy trốn vào hang động của ông. Trong tay bọn chúng là cái đầu của con trâu mà bọn chúng giết trộm. Sau đó chúng mới phát hiện ra rằng người đàn ông đã biết được việc làm mờ ám của bọn chúng, bọn chúng quyết định giết ông để bịt đầu mối. Ông ta van xin bọn chúng tha mạng cho ông, bởi vì chỉ còn vài phút nữa là ông có thể đạt tới giác ngộ. Nếu bị giết chết trước thời hạn 50 năm thì mọi công sức của ông bị đổ sông đổ bể.Bọn cướp phớt lờ trước lời van xin của ông ta, và cắt đứt đầu của ông ta.

Ngay lúc đó, ông ta lập tức biến thành yama và đội cái đầu trâu vào cái xác không đầu của mình. Yama giết chết hai tên cướp và uống cạn máu của chúng bởi cái chén được làm bằng sọ của bọn chúng.Trong cơn điên cuồng báo thù, Yama đe doạ tiêu diệt hết tất cả dân Tây Tạng.
Người dân Tây Tạng nguyện cầu đức Văn Thù Sư Lợi , xin ngài bảo vệ dân chúng trước cuộc báo thù của Yama. Văn Thù Sư Lợi liền vận dụng thần thông hoá thân thành Yamantaka ( Hàng phục dạ ma ), ngài đánh bại Yama,để cứu giúp dân chúng, đồng thời ngài khiến Yama trở thành một trong những hộ pháp của Phật giáo.


Chúng ta thường thấy Yama hay xuất hiện trong thangka với một phối ngẫu của mình, Chamundi, là người dâng cho Yama một chén tiên dược máu quỷ ( cam lồ máu ). Và những xác người chết như là thứ trang sức của Yama. Yama có màu xanh đen của đầu con trâu .





Mahakala : Đại Hắc Thiên



Huyền thoại về lịch sử của Mahakala được viết bởi Khedrup Khyungpopa, là người sáng lập dòng truyền thừa Shangpa Kagyu, vào thế kỉ thứ 11. Ngài dạy rằng sức mạnh đặc biệt cũng như năng lực kì diệu của Mahakala là do nguyện lực của đức Avalokiteshvara ( Quan Thế Âm ). Ngài nguyện còn sinh tử và quyết không thành Phật nếu còn chúng sanh chưa được giác ngộ. Sau khi giúp hàng vô lượng người, trong vô số đời đạt tới giác ngộ . Ngài thấy rằng sự đau khổ không hề giảm sút mà hơn thế nữa sự ô nhiễm trong tâm thức chúng sanh ngày một tăng trưởng. Ngài thấy thất vọng, nhụt chí. Lúc đó lập tức đầu Ngài vỡ tan thành trăm ngàn mảnh vụn.



Phật A Di Đà ( Amitabha) một trong 5 vị Phật ( Tỳ Lô Giá Na Phật, Bảo Sanh Phật, Khai Phu Hoa Vương Phật , A Di Đà Phật, Thiên Cổ Lôi Âm Phật ) ghép những mảnh vỡ lại, và biến thành 11 đầu. Sau đó ngài dặn dò đức Avalokiteshvara hãy thực hiện lại lời nguyện đó một lần nữa, nhưng giữ lời nguyện đó tốt hơn, kiên cố hơn. Do đó Avalokiteshvara có mười một đầu, và trong đó có mười đầu là hiền hoà và một đầu là phẫn nộ. Đầu phẫn nộ đó chính là đại diện cho Mahakala.

Ngài Avalokiteshvara buồn bã, trong khoảng thời gian 7 ngày. Ngài nghĩ rằng trên thế giới đầy những chúng sanh đau khổ cần một kết quả thật nhanh chóng mà không phải có quá nhiều nỗ lực. Sau đó ngài muốn biến mình thành một bổn tôn phẫn nộ để đánh bại nhanh chóng và hiệu quả hơn những trở ngại cho hạnh phúc của người khác. Với tư tưởng này chữ Hum màu xanh đậm xuất hiện từ trái tim ngài. Chủng tự Hum đó đã trở thành Mahakala. Điều đó có nghĩa rằng trong câu thần chú “Om Mani Padme Hum”, chủng tự Hum tượng trưng cho sức mạnh, quyền năng.

Sự xuất hiện của Mahakala kéo theo sự rung động của mặt đất, đồng thời có giọng nói của chư Phật vang vọng trong không trung chứng minh rằng Mahakala có đủ quyền năng làm ban phát những gì chúng sinh mong muốn nếu những mong muốn đó là trung thực và tốt.

Mahakala là một hộ thần giám hộ cho người thống trị Mông Cổ- Thành Cát Tư Hãn- lúc bấy giờ. Sự phẫn nộ của Mahakala được xem giống như hoá thân phẫn nộ của thần Siva. Ở Tây Tạng, về hình ảnh của Mahakala thường có một đầu và ba mắt, lông mày như những ngọn lửa nhỏ và râu thì có dạng như hình móc câu. Mahakala có từ 2 đến 6 tay.

Điều tự nhiên cơ bản mà dân Tây Tạng thường thờ cúng Mahakala có lẽ là vì ngài là vị thần của lều trại. Bởi vì dân Tây Tạng sống du mục, do vậy thời gian ở lâu mau là phụ thuộc vào thiên nhiên và môi trường xung quanh, do vậy họ dùng lều trại, việc di chuyển và định cư tạm thời là một phần quan trọng của cuộc đời họ.

Ngoài ra ngài còn là một Hộ Pháp rất quan trọng, bởi thế cho nên ở mỗi tu viện đều có một nơi thờ Mahakala.



Yamantaka ( Hàng Phục Dạ Ma )


Yamantaka, là một hoá thân phẫn nộ của Văn Thù Sư Lợi ( Bồ Tát của trí tuệ ), Yamantaka là hoá thân phức tạp và phẫn nộ khủng khiếp nhất trong tất cả các hoá thân phẫn nộ của Phật giáo. Ở hoá thân này, Văn Thù Sư Lợi đã hàng phục được thần chết Yama, khi mà Yama đang trong cơn khát máu điên cuồng trả thù giết hại dân Tây Tạng .



Theo truyền thuyết, trong đại định, Văn Thù Sư Lợi đi khắp tất các nơi trong địa ngục để tìm kiếm Yama. Cuối cùng ngài đã tìm ra được nơi trú ngụ của Yama và các thuộc hạ của mình đó là một thành phố sắt ở địa ngục. ( Yama lúc này mang hình dáng thân người đầu trâu nước).


Để điều phục Yama, Văn Thù Sư Lợi sử dụng hình dạng như vậy, nhưng thêm vào đó tám đầu và nhân lên nhiều tay, mỗi cánh tay đều cầm những thứ vũ khí đáng sợ. Và hơn thế nữa từ trong thân ngài mọc ra thêm một số lượng chân tương ứng, xung quanh ngài là một số lượng lớn những chúng sanh đang kinh hãi. Để đối đầu với cái chết, ngài hiện thân như chính bản thân của thần chết được nhân lên nhiều lần. Thần chết Yama thấy được bản thân nhưng sự khủng khiếp lại gấp nhiều nhiều lần. Lúc này thần chết Yama gặp phải tình cảnh đúng nghĩa là "sợ muốn chết".

Đó là lý do tại sao các nhà yogi khi thực hành pháp yamantaka , thông qua hình tượng yamantaka họ sẽ phát tiển được định lực đủ mạnh để đối diện với cái chết, cũng như các sự sợ hãi về cái chết. Mỗi đầu, mỗi cánh tay, mỗi bàn chân cho đến từng thái độ, từng món trang sức, tất cả biểu tượng đó của Yamantaka đều là những mảng giác ngộ tối cần thiết cho việc đối diện với cái chết.

Cả Yama và Yamantaka đều mang hình tướng là đầu trâu nhưng Yama thì luôn có một món trang sức hình bánh xe ở trên ngực, đây là dấu hiệu đặc trưng để phân biệt hai vị hộ pháp này.










Kubera (Vaisravana) ( Tài Bảo Thiên Vương )



Theo thần thoại Hindu, Kubera là con trai của một nhà hiền triết gọi là "Visravas", vì vậy ngài được đặt theo tên cha mình là "Vairavana". Truyền thuyết nói rằng do sự tu tập nghiêm chỉnh, sự mộc mạc, chân thật của mình trong hàng ngàn năm. Brahma ( Phạm Thiên ), đấng sáo tạo trong thần thoại của Hindu, đã ban cho ngài sự bất tử và biến ngài thành vị thần của tài bảo. Ngài là vị thần bảo hộ cho tất cả các kho tàng của trái đất. Ngài sẽ ban phát kho tàng này cho những ai xứng đáng.



Nơi ở của Kubera là ngọn núi Kailash ( một đỉnh núi linh thiêng, mà người dân Tây Tạng rất hay hành hương tới, tương truyền ai tới được ngọn núi linh thiêng này thì dường như đã tịnh hoá được rất nhiều nghiệp lực, cũng như đã tiến một bước rất dài trong con đường tu tập - người dịch ). Nhưng khi được Brahma bổ nhiệm làm Thần Tài Bảo, thì Brahma cho ngài vùng Lanka ( Ceylon) làm thủ phủ của ngài.



Cũng dựa theo truyền thuyết, ngài cũng được Brahma tặng cho chiếc xe pushpaka, là chiếc xe khổng lồ và di chuyển theo ý nghĩ của chủ nhân với một tốc độ khủng khiếp.

Kubera cũng được thờ cúng bởi các Phật tử, ông được xem như là một vị bảo hộ của phương Bắc ( trong một số tài liệu còn nói Kubera chính là Tỳ Sa Môn Thiên Vương, người trấn giữ ở phương Bắc, chủ về tài bảo -nd ). Biểu tượng đặc trưng của ông chính là con chồn. Con chồn đặc biệt này luôn nhả ra châu báu.

Theo Phật giáo , ngài còn được gọi là Jambhala. Ngài luôn xuất hiện dưới hình tướng to béo và được bao phủ bởi châu báu. Chân phải của ngài lúc nào cũng đạp lên một cái vỏ ốc nằm trên một bông sen ( vỏ ốc này tượng trưng cho tốc độ khủng khiếp của ngài ).



Hayagriva : Mã Đầu Minh Vương




Hayagriva được thờ cúng ở Tây Tạng một cách chính yếu bởi những người buôn ngựa bởi vì người ta tin rằng Hayagriva doạ và đuổi ma quỷ đi bởi tiếng ngựa hí vang trời. Khi người ta thỉnh, ngài sẽ báo hiệu việc giáng lâm của ngài bằng tiếng hí, đó là lý do có cái đầu ngựa trên đảnh đầu, một dấu hiệu đặc trưng của Hayagriva.


Âm thanh vang ra từ đầu ngựa, theo như truyền thuyết là có khả năng xuyên thủng màn vô minh, đem lại ánh sáng chân thật của tự do. Thần chú của ngài có chứa những câu thơ như sau.





"Nguyện cầu ngài bảo vệ đàn ngựa


Tăng thêm số lượng ngựa cái
Từ những con ngựa này sẽ sinh thêm nhiều chú ngựa con siêu phàm
Xin ngài hãy dẹp hết những chướng ngại trên đường


và hướng cho chúng con đi đúng hướng"





( do lối sống du mục của người Tây Tạng, nên ngựa là một thứ quan trọng không thể thiếu trong sinh hoạt thường nhật của họ )





Hayagriva là một hoá thân phẫn nộ của đức Avalokiteshvara ( Quan Thế Âm ), theo những khảo cứu thì có tới 108 hình tướng của Hayagriva. Năng lực đặc biệt của ngài là chữa bệnh, nhất là các bệnh về da, thậm chí cả những bệnh về da khá trầm trọng như là bệnh phong. Bệnh này được tin rằng do Naga gây ra ( Naga là loài rồng nhưng có hình tướng giống như rắn, rất thích sống ở khu vực sông nước, ao hồ, biển cả...).





Hình tướng đơn giản nhất của ngài thì có một mặt, hai tay và hai chân. Tất cả mọi thứ về ngài đó là khuôn mặt đáng sợ với ba con mắt, cái miệng đang gầm rống đầy những răng nanh, tư thế đứng của một chiến binh, chiếc bụng to lớn ẩn chứa một nội lực phi phàm trong đó. Tay phải ngài vung thanh kiếm để đe doạ đối phương, tay trái giơ lên phụ trợ trong một tư thế đáng sợ, đồ trang sức của ngài đó là những con rắn.





Nét đẹp của ngài lại là những điều đáng sợ nêu ở trên, bởi vì chính cái khía cạnh đáng sợ đó lại là biểu lộ của sự từ bi, chính cái đáng sợ đó giúp ta buông bỏ được bản ngã, và xuyên thủng được màn vô minh....



Palden Lhamo : Vị nữ thần






Palden Lhamo là vị nữ hộ pháp duy nhất trong nhóm 8 hộ pháp lớn của Phật giáo. Ngài là nữ hộ pháp bảo vệ cho chánh pháp ở khắp mọi nơi, bao gồm cả đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà nước Tây Tạng, thủ phủ Lhasa. Đồng thời ngài cũng là nữ hộ pháp cho đất nước Trung Quốc từ triều đại nhà Nguyên thế kỉ 13 cho tới những ngày cuối cùng của triều đại nhà Thanh đầu thế kỉ 20.






Ở Ấn Độ, Palden Lhamo còn được gọi là Shri Devi. Ngài còn là là nữ thần Okkin Tungri ở miền Bắc Mông Cổ. Ngài cũng được xem như là một hoá thân phẫn nộ của Saraswati ( Biện Tài Thiên ) vị nữ thần của sự học tập, của sự biện tài ( ăn nói ), và của âm nhạc. Một hoá thân khác của ngài là Chamudi, phối ngẫu của Yama. Lại cũng có thuyết nói ngài là một phối ngẫu của Mahakala.



Là nữ hộ pháp duy nhất trong việc bảo vệ chánh pháp, thế nên tương truyền rằng những thứ vũ khí của ngài vốn là được các thần khác trao tặng. Hevajra tặng cho ngài hai hạt xúc xắc để định đoạt sinh mạng của con người, Brahma tặng ngài chiếc quạt làm bằng lông công, từ Vishnu ngài được tặng hai chiếc đèn sáng rực( giống như hai viên ngọc toả hào quang ). Một chiếc thì được ngài cài trên đỉnh đầu, chiếc còn lại được ngài đeo vào ngang eo. Kubera, Thần Tài Bảo, đã cho ngài một con sư tử ( trang sức hình sư tử ) và được ngài đeo ở tai phải. Nanda, Thần rắn, đã ban cho ngài một con rắn ( trang sức hình con rắn ) và được đeo ở tai trái của ngài. Từ Vajrapani ( Kim Cang Thủ ) ngài nhận một chiếc búa sấm sét. Những vị thần khác ban tặng ngài một con la, được bao bọc bởi bộ da của quỷ Dạ Xoa, và có những con rắn độc quấn quanh bụng. Người ta hay thấy ngài cưỡi con la này đi du hành khắp muôn phương.



Ngoài ra còn có một truyền thuyết nói rõ hơn về sự từ bi của ngài. Tương truyền là ngài đính hôn với một vị vua tên là Shenji, người vừa là một vị vua khát máu vừa là một chiến binh bạo tàn, ông ta từ chối hết những lời yêu cầu của Palden Lhamo khẩn cầu ông dừng giết hại dân chúng vô tội. Cuối cùng ngài đành đưa ra một tối hậu thư :



Nếu không dừng giết hại, bà sẽ giết những đứa con của mình có với nhà vua, để cho ông có thể trải nghiệm về nỗi đau người thân bị giết hại mà ông ta gây ra cho những người khác.


Shenji vẫn không dừng, thế là ngài thực hiện lời đe doạ của mình. Trước cái chết của con trai mình, ông ta đã buộc phải dừng lại.



Ngài hay được thấy mang theo xác của con trai mình trên lưng con la đi khắp nơi. Đây là biểu tượng cho quyết tâm không dừng lại trước bất cứ điều gì để đem lại sự an bình cho tất cả.




Tshangs Pa ( Phạm Thiên Trắng )




Brahma (Phạm Thiên) , là một vị thần quan trọng nhất đối với đạo Hindu, tuy nhiên đối với Phật giáo thì Phạm Thiên chỉ chiếm một ví trí thứ yếu. Tên tiếng Tây Tạng của Brahma là Tshangs Pa, chúng ta thường biết đến Brahma với hình tượng 4 đầu 2 tay. Nhưng trong Phật giáo Tây Tạng ngài luôn được biểu hiện với màu trắng, 1 đầu 2 tay và được gọi là Tshangs pa dkar po. Có nghĩa là Tshangs Pa Trắng.


Cũng theo như các sadhana, đây cũng là hình tượng của Brahma. Người ta thường thấy ngài ngồi trên lưng con ngựa trắng, giơ cao thanh gươm, đôi lúc có đeo lá cờ sau lưng. Ngài là một vị thần của chiến binh, nhưng không hiện thân quá khủng khiếp và man rợ. Đằng sau chiếc vương miện ngài là chiếc khăn mỏng có chứa cái vỏ ốc ( một trong những biểu tượng cát tường thường thấy của Tây Tạng-nd ). Ngài mặc những bộ quần áo dài tay và "bồng bềnh như mây".



Mặc dù các truyền thuyết đằng sau nguồn gốc của ngài, không có gì không khế hợp với Brahma, song chúng ta có một truyền thuyết khá thú vị:








Ekajati - Bà mẹ khủng khiếp






Thất vọng vì sự bại trận của mình, ngài Tshangs Pa lại tiếp tục cuộc hành trình của mình trong vũ trụ. Ngài bắt đầu giết tất cả những người thanh niên ở những nơi ngài đi qua, và cưỡng bức những cô gái mà ngài gặp. Một ngày nọ ngài gặp nữ thần Ekajati. Với ý định quấy rầy nữ thần, ngài bắt đầu buông lời ong bướm. Nữ thần Ekajati nổi giận và dùng chiếc khăn tơ lụa của mình đang choàng trên người để đánh ngài. Bị đánh vào đùi, chân ngài lập tức gãy lìa. Cái đánh của nữ thần ngay lập tức khiến cho ngài giác ngộ và trở thành một trong những hộ pháp của Phật giáo. Cái đánh này không có ý nghĩa là hành hung trên một khía cạnh vật chất. Nó chính là sự tấn công vào các phần tiêu cực, các khía cạnh đen tối của tâm thức và chuyển hoá nó. Bởi vì sức mạnh, năng lực vô biên của ngài được chuyển hướng vào việc bảo hộ và cúng dường cho chân lý, đã khiến ngài trở thành một trong những vị đại hộ pháp của Phật giáo. Trong lịch sử, đây cũng chính là hình ảnh đại diện cho sự hội nhập của tôn giáo cổ của Tây Tạng ( đạo Bon ) vào đạo Phật bởi đạo sư vĩ đại Padmasambhava ( Liên Hoa Sanh ).




Begtse: Thần Chiến Tranh




Người chiến binh man rợ này, vốn là một Dạ Xoa, là vị thần của chiến tranh ở vùng Trung Á, mặc áo giáp và trang phục của quân Mông Cổ, xuất hiện trong Phật Giáo Tây Tạng vào nửa cuối thế kỉ 16, là hộ pháp cuối cùng gia nhập vào nhóm 8 vị hộ pháp.

Theo truyền thuyết,Begtse xuất hiện trước khi Dalai Lama, người lãnh đạo của một đội quân động vật. Đức Dalai Lama được mời từ Tây Tạng tới Mông Cổ do vua của Mông Cổ lúc bấy giờ là Atlan Khan ( con cháu của Thành Cát Tư Hãn) để chuyển dổi Phật giáo thành quốc giáo của Mông Cổ.



Biết được việc này nên đức Dalai Lama liền hoá thành Quan Âm Tứ Thủ Avalokiteshvara, vị Bồ Tát của lòng từ bi, hai tay của ngài chắp trước ngực tạo thành ấn nguyện cầu. Bước chân của con ngựa ngài cỡi, in lên trên cát không phải là dấu chân mà lạ thay lại là câu thần chú Om Mani Padme Hum.Tận mắt chứng kiến phép màu này, Begtse liền tin tưởng ngay vào tính ưu việt, sự vượt trội của Phật giáo và tự động quy phục, và chuyển sang Phật giáo. Người ta nói sự quy phục của Begtse chính là hình tượng cho việc chuyển đổi quốc giáo của Mông Cổ thành Phật giáo.



Ngài xuất hiện với đầy đủ các thứ phục trang như các hộ pháp khác, giơ cao một thanh gươm ( cán gươm có hình con bò cạp ) trong tay phải. Tay trái thì nắm một chiếc đầu của kẻ thù màu cam, ta còn có thể thấy ngài giương cung tên cùng lúc đó. Ngài đạp lên xác chết của người đàn ông bằng chân trái, chân còn lại thì ngài dẫm lên cái xác chết của con ngựa. Ba con mắt của ngài đầy sự phẫn nộ,nhìn trừng trừng đủ để đe doạ những kẻ phá hoại chánh pháp.

Thứ Ba, 25 tháng 12, 2012

Đức Quan Thánh Quy Y Phật Pháp




Theo “Lục Đạo Tập”, đời nhà Tùy (thế kỷ 6) vào đời vua Văn Đế trị vì có Ngài Thiên Thai Trí Giả (cuối thế kỷ 6) luôn ở trong rừng sâu, tọa thiền nhập định bên gốc cây để quán chiếu thấu nguồn chân, thời gian một tuần, nửa tháng hoặc một tháng mới xuất định. Ngài tinh tấn dũng mãnh như thế làm cho trong tâm Không mà ngoại cảnh cũng vắng lặng, chứng được môn Pháp Hoa tam muội.
Ngài nhập định tại núi Ngọc Tuyền thường trì tụng kinh Pháp Hoa. Một hôm chợt trông thấy hội Linh Sơn hiển nhiên hiện ra trước mặt. Do cảm ứng đạo giao nên mới có được sự chiêu cảm như vậy. Cả đến các tầng trời cõi thiên đều đồng thanh khen ngợi công đức tu trì của Ngài, cũng như đem thiên hoa rải xuống cúng dường, và những vị thiên thần cùng nhau hết lòng hộ vệ.
Nhân một hôm, trời trong mây lặng, gió mát trăng thanh Ngài chợt thấy một trang nam tử mặt phụng mày tầm, râu dài mặt đỏ, tướng mạo đoan trang, dáng như một bậc đại trượng phu từ đằng xa đi tới. Phía sau lưng người ấy lại có một tiểu đồng tay cầm đao thanh long theo hầu, chân đi khép nép trông có vẻ ra chiều cung kính.
Ngài hỏi: “Nhân giả là ai? Đến đây có việc gì?" Quan Thánh bèn cúi đầu vòng tay thưa rằng:
- Thưa, đệ tử tên là Quan Võ.
Ngài tiếp hỏi rằng:
- Có phải là em của Lưu Huyền Đức và anh Trương tướng quân, người đời Tam Quốc hay không?
Quan Thánh đáp:
- Thưa, phải ! Chính tôi đây.
- Ngài Thiên Thai Trí Giả khen rằng: “Ta hằng nghe tướng quân giữ một lòng trung nghĩa, sống làm tướng đánh Ngụy, chống Ngô; chết làm thần phục ma, trừ quỉ. Trước có ông Võ Mục xưng thần, danh oai vang tám cõi, sau đức Văn Xương hiển thánh, lưu tiếng ngàn thu là phải lắm. Nay nơi núi cao rừng thẳm, không hẹn mà gặp, không quen biết mà gần, thật là một đại nhân duyên vậy”.
Quan Thánh thưa rằng:
- Nay gặp đời mạt thế, cách Phật đã xa, cương thường luân lý đảo ngược, mọi người lơ là như bịt tai che mắt, không hề biết đến nữa. Vậy nên gian thần, tặc tử đầy dẫy ở khắp cùng nơi chật ních thế gian. Lắm kẻ tranh danh, nhiều người trục lợi, tranh đấu sát phạt nhau, thậm chí sát hại nhau, cái tâm con người như chai đá, không chút thương tâm ! Nay may nhờ Tổ sư (Ngài) ra đời, mở lượng từ bi, phụng hành pháp ấn Phật mà đem dạy dỗ chúng sanh, ngỏ hầu sống có được niềm an lạc, chết cũng được về cõi thánh thiện.
Vậy nên cha con tôi nguyện hướng theo Phật, mong Ngài tế độ và rất vui lòng phát nguyện kiến tạo một ngôi Già lam để hiến cúng cho đại sư làm đạo tràng tu niệm và có nơi hoằng pháp lợi sanh. Mong đại sư cảm chút lòng thành của đệ tử mà nạp thọ”.
Ngài Thiên Thai Trí Giả đáp rằng: “Lành thay! Lành thay!” Khi Quan Thánh từ tạ ra về, ngay trong đêm ấy liền sắc triệu chư thiên mười phương, cùng nhiều thiên lực sĩ, hàng vạn tinh binh… ra sức lấp đầm sâu, thành chỗ đất bằng phẳng; cây gỗ trên rừng được kéo về như thác đỗ, với những rìu thần, búa thiêng, chạm trỗ lạ lùng mau lẹ. Chẳng bao lâu Phật điện, thiền đường đã được xây nên tinh xảo, như thợ trời khéo đẽo gọt tinh vi; tạo nên tòa Phật sát thật là uy nghiêm tráng lệ, không phải do tay người phàm mà tô điểm nên cảnh danh lam thắng địa được vậy.
Ngôi chùa chỉ xây trong bảy ngày là xong. So ra sức người là trong vài ba năm cũng chưa được hùng vĩ kiên cố như thế. Thật quả là thần kỳ! Và vô cùng diệu thuật làm sao!
Ngôi chùa vừa hoàn tất, Quan Thánh liền đến rước Ngài Thiên Thai Trí Giả về đó an trụ và gìn giữ ngôi già lam này làm nơi thánh địa tuyên dương giáo pháp.
Từ đó đại sư ở chùa, ngày đêm giảng kinh thuyết pháp, tùy theo căn cơ người nghe mà giáo hóa, nên mọi người ai nấy đều được lợi ích. Khắp nơi, kẻ tăng người tục nghe danh Ngài đều tìm đến xin quy y, thính pháp thật là đông đảo cho nên tiếng đồn đến triều đình, bảy đời đế vương đều sắc phong Đại sư làm chức quốc sư cả.
Lúc bấy giờ, cha con Quan Thánh, hằng ngày đến chùa nghe pháp, vì biết đạo Phật cao siêu, và cũng muốn gieo hạt giống Bồ Đề cầu mở khai tuệ giác và giải thoát.
Một ngày kia, Ngài Quan Thánh đến bạch với Ngài Thiên Thai Trí Giả xin thọ Tam quy ngũ giới, Ngài rất vui lòng mời đông đủ bốn chúng mở đàn truyền trao giới pháp.
Từ đó trở đi, danh của đức Quan Thánh càng ngày càng lớn, thần oai càng hiển linh, khắp nơi chốn đều thờ Quan Thánh đã đành, ở tư gia nhà nhà đều thiết lập tượng Ngài lễ bái với hương đăng, hoa quả dâng lễ cúng dường như bậc Thánh sống.

Đến đời nhà Minh (1368 – 1661) niên hiệu Khương Hy, năm thứ 9, ngày 13 tháng 5 tại Quảng Đông các nhà hội quán đồng lập một tòa miếu, rồi thiết tôn tượng Quan Thánh thờ phụng. Do vậy, nhân gian chọn ngày ấy làm ngày tế lễ vía Quan Thánh linh đình, trọng hậu bằng phẩm vật và sanh linh để cầu phước. Cúng tế xong, mọi người đem lộc chia nhau thọ hưởng vui chơi. Trong cuộc tiệc vui, có một y sanh tên là Trần Diệu, đang ngồi bỗng dưng ngã xuống đất bất tĩnh nhơn sự một hồi lâu. Trong lúc đó, ông thấy một người đến nắm tay kéo đi rất mau như gió, và hai chân bước không chấm đất như đi giữa hư không vậy. Phút chốc, ông thấy trước mặt có một tòa cung điện, thật nguy nga, hai bên bài trí rất nghiêm chỉnh; chính giữa một vị mặc áo lục bào, mặt đỏ râu dài, ngồi đường bệ oai phong.
Trần Diệu biết đó là đức Quan Thánh, liền nghe trên không phán rằng: “Ta sanh tháng 7, chớ đâu phải tháng 5 mà cúng tế Ta như thế? Vả lại, người đời phụng thờ ta, cũng như cúng tế ta chỉ mong cầu phước, sao lại sát hại những sanh mạng, rồi đem bày ra trước mặt ta? Như thế đã khinh lờn thần minh, mà lại còn vô lễ nữa: đó là tạo thêm tội, chớ nào đâu cầu phước? Nếu người nào biết quy y Tam Bảo, giữ lòng chân chánh, phát tâm từ bi thương kẻ bần hàn, người hoạn họa ốm đau, kẻ cô thế ngặt nghèo… dẫu không cúng dường ta cũng mật thùy gia hộ, chuyển tai họa thành kiết tường. Tất cả đều hưởng được lợi lạc an vui. Người nào bất trung, bất hiếu, vong ân bội nghĩa, ôm lòng sát hại, hung dữ, tà dâm… dẫu có đêm ngày lễ bái lòng sát hại, hung dữ tà dâm… dẫu có đêm ngày lễ bái ta, ta cũng không thể nào cứu được. Trong sách có câu rằng: “Bất dĩ tế nhi giáng phúc, bất dĩ bất tế nhi giáng họa” (không vì cúng tế mà ban phúc, không vì chẳng cúng tế mà giáng họa) là nghĩa này vậy. Hơn nữa, ta là một vị thánh thần giữa hư không thọ dụng những hương vị cam lồ để tư dưỡng cái tịnh thân mà đâu cần chi những vật tanh hôi, máu thịt bất tịnh ấy. Ngươi phải về bố cáo lại cho mọi người trong thế gian biết rằng: “Đừng nên sát sanh hại vật mà cúng tế ta nữa. Những loài dê, heo, nếu con nào tuyền sắc thì ta đã độ được siêu sanh thoát hóa rồi, còn nếu con nào tạp sắc, tội nghiệp nặng nề, ta không thể độ được, và hiện nay còn đầy ở trong núi kia”.
Đức Quan Thánh phân phán rồi, bèn cho người dẫn Trần Diệu đến đầu núi, ông ta xem thấy những loài dê, heo tạp sắc nhiều vô số, người dẫn còn lấy tay chỉ mà nói với Trần Diệu rằng: “Đó là loài tội nghiệp nặng nề, ngươi phải về nói lại rằng từ nay trở về sau không nên làm như vậy nữa”. Nói vừa dứt lời, hai người trở về nhanh như gió vậy.
Tưởng nên nhắc lại lúc Trần Diệu đang ngồi dự tiệc, bất thần xỉu ngã lăn xuống đất bất tỉnh nhơn sự, khiến mọi người trong buổi tiệc đều hoảng hốt, xúm nhau đỡ nạn nhân dìu ra nhà sau mà làm hô hấp nhân tạo, lo thuốc men kịp thì. Một lúc sau Trần Diệu tỉnh lại, mọi người hỏi chuyện vừa rồi, ông thuật rõ đầu đuôi tự sự, làm cho ai nấy càng thêm tin tưởng sự linh cảm hơn lên.
Do tích truyện trên, từ đó trở đi trong vùng Quảng Đông nói riêng và khắp nơi không có nhà nào dám sát hại sanh vật để cúng tế đức Quan Thánh như tục lệ xưa nữa.
Do sự hiển linh của Ngài mà mọi người thờ cúng đức Quan Thánh hay do tấm lòng trung trinh báo quốc của Ngài Quan Võ mà hình tượng được khắc họa cúng tế ở khắp nơi trong nhân gian?
Đức Quan Võ hiển thánh: “ba huynh đệ kết nghĩa vườn đào” thời Tam Quốc (220 – 280 TL): Lưu Huyền Đức, Trương Phi và Quan Võ, thế mà mãi tới đời vua Tùy Văn Đế, sau hơn 300 năm Quan Thánh tới giúp Ngài Thiên Thai Trí Giả Đại Sư xây chùa trên núi Ngọc Tuyền, và cũng chính nơi đây Ngài quy y thọ giới với Đại Sư. Và trở thành một Phật tử hộ trì Phật Pháp, biết trai giới khuyến thiện mà qua nhân vật Trần Diệu cho ta thấy rõ điều này.
* Hiển linh mượn xác nhân vật: vì dân chúng vùng Quảng Đông sát sanh hại vật cúng tế Quan Thánh, tức mượn oai thánh thần để gây tội ác. Thứ nhất là phạm tội giết sanh mạng loài dê, heo, trâu bò cúng tế; giết mạng phải đền mạng không thể nào khác được. Thứ nhì phạm điều mê tín: cầu phước lộc, quan vị, buôn bán sanh lợi, thi đỗ v.v… đều phó thác nhờ tha lực mà không chịu nỗ lực dốc chí đem hết khả năng làm việc, khiến con người thờ ơ, ỷ lại đi đến chỗ ủy mị hèn yếu trước thiên nhiên tạo vật. Thứ ba, dựa hơi hám thần linh thọ lộc để say sưa rồi gây ra tội lỗi xấu ác mà không tự kiểm soát được. Nhờ một người tên Trần Diệu ngộ nạn trong cuộc tiệc sau tế lễ Đức Quan Thánh, đã được đức Thánh hiện ra báo trước cho ông biết việc làm vô đạo, hiếu sát của con người ở trên thế gian để cảnh báo mọi người nên ăn hiền ở lành, tu nhơn tích đức.
* Quy y Tam Bảo: người đã thoát hóa mấy trăm năm sau mới gặp được bậc minh sư – Ngài Thiên Thai Trí Giả – xin đầu Phật và đức Quan Thánh trở thành là một Phật tử ủng hộ giáo pháp Phật đà. Oai danh Ngài nổi bật cũng nhờ công đức hộ pháp này nên được nhiều người hâm mộ, tôn thờ đức độ tài năng của nhân vật đặc biệt trong dáng hình tướng quân mà tâm niệm luôn muốn tồi tà phụ chánh này qua mọi quốc độ và thời gian.
* Đức Quan Thánh được tôn thờ như vị Bồ Tát: Ngày nay sau hơn 3000 năm, hiện thế, hình tượng đức Quan Thánh được lập miếu thờ hầu khắp các quốc gia theo Phật giáo Bắc truyền và Nam truyền tại Châu Á. Và hầu như một phần ba dân chúng tại những nơi này nhà nào cũng có thờ cúng đức Quan Thánh tâm thành như một tín ngưỡng nhân gian vậy.
Thật đúng như câu: “hương thơm dù là của loài hoa chiên đàn cũng không bay ngược được chiều gió; chỉ có hương của người đức hạnh mới phảng phất đến khắp muôn phương”, như công hạnh lợi tha của Đức Quan Thánh là nột ví dụ điển hình rõ nét nhất.

Thứ Tư, 12 tháng 12, 2012

Ngũ bách danh chư Phật, chư Bồ Tát


HỒNG DANH CHƯ PHẬT HIỆN TẠI

Nam mô Hiện Tại Vô Lượng Chư Phật,
Nam mô Thập Ức Vương Minh Chư Phật,
Nam mô Ly Cấu Tử Kim Sa Phật,
Nam mô Vô Lượng Minh Phật,
Nam mô Nhật Chuyển Quang Minh Vương Phật,
Nam mô Hương Tích Phật,
Nam mô Sư Tử Ức Tượng Phật,
Nam mô Sư Tử Du Hí Phật,
Nam mô Phổ Quang Công Ðức Sơn Vương Phật,
Nam mô Thiện Trụ Công Ðức Bảo Vương Phật,
Nam mô Bảo Trang Nghiêm Vương Phật,
Nam mô Nan Thắng Phật,
Nam mô Tu Di Tướng Phật,
Nam mô Tu Di Ðăng Vương Phật,
Nam mô Bảo Ðức Phật,
Nam mô Bảo Nguyệt Phật,
Nam mô Bảo Viêm Phật,
Nam mô Bảo Nghiêm Phật,
Nam mô Nan Thắng Sư Tử Vương Phật,
Nam mô Ðại Quang Vương Phật,
Nam mô Bất Ðộng Phật,
Nam mô Dược Vương Phật,
Nam mô Trang Nghiêm Phật,
Nam mô Lâu Chí Phật,
Nam mô Nguyệt Cái Phật,
Nam mô Phổ Quang Phật,
Nam mô Bảo Vương Phật,
Nam mô Duy Vệ Phật,
Nam mô Thức Vương Phật,
Nam mô Tùy Diếp Phật,
Nam mô Câu Lâu Tần Phật,
Nam mô Câu Na Hàm Mâu Ni Phật,
Nam mô Ca Diếp Phật,
Nam mô Lôi Âm Vương Phật,
Nam mô Ký Pháp Tạng Phật,
Nam mô Chiên Ðàn Hoa Phật,
Nam mô Chiên Ðàn Diếp Phật,
Nam mô Diệu Ý Phật,
Nam mô Vô Thượng Thắng Phật,
Nam mô Cam Lộ Cổ Phật,
Nam mô Tỳ Bà Thi Phật,
Nam mô Nhật Nguyệt Quang Minh Phật,
Nam mô Vô Thắng Phật,
Nam mô Cụ Túc Trang Nghiêm Vương Phật,
Nam mô Quang Minh Biến Chiếu Công Ðức Vương Phật,
Nam mô Phá Hoại Tứ Ma Sư Tử Hống Vương Phật,
Nam mô Kim Cương Bất Hoại Phật,
Nam mô Lưu Ly Quang Phật,
Nam mô Tu Di Sơn Vương Phật,
Nam mô Tịnh Quang Minh Vương Phật,
Nam mô Thiện Ðức Phật,
Nam mô Vô Lượng Quang Minh Phật,
Nam mô Ðà La Ni Du Hý Phật,
Nam mô Thủ Lăng Nghiêm Ðịnh Tam muội Lực Vương Phật,
Nam mô Thiện Kiến Ðịnh Tự Tại Vương Phật,
Nam mô Vô Thượng Công Ðức Phật,
Nam mô Thần Thông Tự Tại Phật,
Nam mô Vô Sắc Tướng Phật,
Nam mô Vô Thanh Tướng Phật,
Nam mô Vô Hương Tướng Phật,
Nam mô Vô Vị Tướng Phật,
Nam mô Vô Súc Tướng Phật,
Nam mô Tam Muội Ðịnh Tự Tại Phật,
Nam mô Tuệ Ðịnh Tự Tại Phật,
Nam mô Tướng Giác Tự Tại Phật,
Nam mô Phổ Nhiếp Phật,
Nam mô Báo Ðức Phổ Quang Phật,
Nam mô Thi Khí Phật,
Nam mô Tỳ Xá Phù Phật,
Nam mô Ca La Cưu Tôn Ðại Phật,
Nam mô Câu Na Hàm Mâu Ni Phật,
Nam mô Ca Diếp Phật,
Nam mô Ý Lạc Mỹ Âm Phật,
Nam mô Hoan Hỷ Phật,
Nam mô A Sơ Phật,
Nam mô Tu Di Tướng Phật,
Nam mô Tu Di Ðỉnh Phật,
Nam mô Sư Tử Âm Phật,
Nam mô Sư Tử Tướng Phật,
Nam mô Hư Không Trụ Phật,
Nam mô Vân Lôi Tự Tại Phật,
Nam mô Thường Diệt Phật,
Nam mô Ðế Tướng Phật,
Nam mô Bất Phạm Tướng Phật,
Nam mô A Di Ðà Phật,
Nam mô Phạm Tướng Phật,
Nam mô Ðộ Nhất Thiết Thế Gian Khổ Não Phật,
Nam mô Ða La Ma Bạt Chiên Ðàn Hương Phật,
Nam mô Tu Di Tướng Phật,
Nam mô Vân Tự Tại Vương Phật,
Nam mô Hoại Nhất Thiết Thế Gian Phố Úy Phật,
Nam mô Bách ức ngã Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Hiện tại nhất Phật, thập Phật, bách Phật, thiên Phật, vạn Phật, hay trừ tội trọng từ vô lượng kiếp sinh tử tới nay.
Nam mô nhất ức, thập ức, bách ức, thiên ức, vạn ức, na do tha hằng hà sa đẳng vô lượng a tăng kỳ Phật.
HỒNG DANH CHƯ PHẬT QUÁ KHỨ
Nam mô Quá khứ vô lượng chư Phật,
Nam mô Nhị vạn Nhật Nguyệt Ðăng Minh Phật,
Nam mô Tam vạn Nhiên Ðăng Phật,
Nam mô Ðại Thông Trí Thắng Phật,
Nam mô Thập Lục Tử Phật,
Nam mô Không Vương Phật,
Nam mô Ða Bảo Phật,
Nam mô Vân Tự Tại Ðăng Vương Phật,
Nam mô Uy Âm Vương Phật,
Nam mô Vô Số Quang Phật,
Nam mô Tư Thiện Phật,
Nam mô Phân Thân Chư Phật,
Nam mô Nhật Nguyệt Tịnh Minh Ðức Phật,
Nam mô Tịnh Hoa Túc Vương Phật,
Nam mô Tịnh Trang Nghiêm Vương Phật,
Nam mô Long Tôn Vương Phật,
Nam mô Vân Lôi Âm Vương Phật,
Nam mô Vân Lôi Túc Chủ Hoa Trí Phật,
Nam mô Bảo Vương Phật,
Nam mô Sa La Thụ Vương Phật,
Nam mô Thượng Uy Ðức Bảo Vương Phật,
Nam mô Quang Minh Vương Phật,
Nam mô Bách Ức Ðịnh Quang Phật,
Nam mô Quang Viễn Phật,
Nam mô Nguyệt Quang Phật,
Nam mô Chiên Ðàn Hương Phật,
Nam mô Thiện Sơn Vương Phật,
Nam mô Tu Di Thiên Quan Phật,
Nam mô Tu Di Ðẳng Diệu Phật,
Nam mô Nguyệt Sắc Phật,
Nam mô Chính Niệm Phật,
Nam mô Ly Cấu Phật,
Nam mô Vô Trược Phật,
Nam mô Long Thiên Phật,
Nam mô Bất Ðộng Ðịa Phật,
Nam mô Lưu Ly Diệu Hoa Phật,
Nam mô Lưu Ly Kim Sắc Phật,
Nam mô Kim Tạng Phật,
Nam mô Viêm Quang Phật,
Nam mô Viêm Căn Phật,
Nam mô Ðịa Chưởng Phật,
Nam mô Nguyệt Tượng Phật,
Nam mô Nhật Âm Phật,
Nam mô Giải Thoát Hoa Phật,
Nam mô Trang Nghiêm Quang Minh Phật,
Nam mô Hải Giác Thần Thông Phật,
Nam mô Thủy Quang Phật,
Nam mô Ðại Hương Phật,
Nam mô Ly Hư Cấu Phật,
Nam mô Xả Yếm Ý Phật,
Nam mô Bảo Viêm Phật,
Nam mô Diệu Ðính Phật,
Nam mô Dũng Lập Phật,
Nam mô Công Ðức Trí Tuệ Phật,
Nam mô Tế Nhật Nguyệt Phật,
Nam mô Nhật Nguyệt Lưu Ly Quang Phật,
Nam mô Vô Thượng Lưu Ly Quang Phật,
Nam mô Tối Thượng Thủ Phật,
Nam mô Bồ Ðề Hoa Phật,
Nam mô Nguyệt Minh Phật,
Nam mô Nhật Quang Phật,
Nam mô Hoa Sắc Vương Phật,
Nam mô Thủy Nguyệt Quang Phật,
Nam mô Trừ Nghi Minh Phật,
Nam mô Ðộ Khổ Hạnh Phật,
Nam mô Tịnh Tín Phật,
Nam mô Thiện Túc Phật,
Nam mô Uy Thần Phật,
Nam mô Pháp Tuệ Phật,
Nam mô Loan Âm Phật,
Nam mô Sư Tử Âm Phật,
Nam mô Long Âm Phật,
Nam mô Xứ Thế Phật,
Nam mô Tự Tại Phật,
Nam mô Vô Lượng Thọ Phật,
Nam mô Vô Lượng Quang Phật,
Nam mô Vô Biên Quang Phật,
Nam mô Vô Ngại Quang Phật,
Nam mô Vô Ðối Quang Phật,
Nam mô Quang Viêm Vương Phật,
Nam mô Thanh Tịnh Quang Phật,
Nam mô Hoan Hỷ Quang Phật,
Nam mô Trí Tuệ Quang Phật,
Nam mô Bất Ðoạn Quang Phật,
Nam mô Nan Tư Quang Phật,
Nam mô Vô Xưng Quang Phật,
Nam mô Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật,
Nam mô Tướng Hảo Tử Quang Phật,
Nam mô Viễn Chiếu Phật,
Nam mô Bảo Tạng Phật,
Nam mô Vô Lượng Âm Phật,
Nam mô Cam Lộ Vị Phật,
Nam mô Long Thắng Phật,
Nam mô Thắng Lực Phật,
Nam mô Sư Tử Âm Phật,
Nam mô Ly Cấu Phật,
Nam mô Ðức Thủ Phật,
Nam mô Diệu Ðức Sơn Phật,
Nam mô Nhân Vương Phật,
Nam mô Vô Thượng Hoa Phật,
Nam mô Úy Lực Vương Phật,
Nam mô Long Tự Tại Vương Phật,
Nam mô Sư Tử Y Vương Phật,
Nam mô Tự Tại Vương Phật,
Nam mô Phổ Quang Phật,
Nam mô Phổ Minh Phật,
Nam mô Chiên Ðàn Hương Quang Phật,
Nam mô Ða La Ma Bạt Chiên Ðàn Hương Phật,
Nam mô Hoan Hỷ Tạng Bảo Tích Phật,
Nam mô Thượng Ðại Tinh Tiến Phật,
Nam mô Phổ Tịnh Phật,
Nam mô Ma Ni Tràng Phật,
Nam mô Ma Ni Tràng Ðăng Quang Phật,
Nam mô Tuệ Cự Chiếu Phật,
Nam mô Hải Ðức Quang Minh Phật,
Nam mô Kim Cương Lao Cường Phật,
Nam mô Phổ Tán Kim Quang Phật,
Nam mô Ðại Cường Tinh Tiến Dũng Mãnh Phật,
Nam mô Dũng Mãnh Phật,
Nam mô Bi Quang Phật,
Nam mô Từ Lực Vương Phật,
Nam mô Từ Tạng Phật,
Nam mô Chiên Ðàn Hốt Trang Nghiêm Thắng Phật,
Nam mô Hiền Thiện Thủ Phật,
Nam mô Thiện Giác Phật,
Nam mô Trang Nghiêm Vương Phật,
Nam mô Kim Sơn Bảo Cái Phật,
Nam mô Kim Hoa Viêm Quang Tướng Phật,
Nam mô Ðại Cự Quang Minh Phật,
Nam mô Bảo Cái Chiếu Không Tự Tại Lực Vương Phật,
Nam mô Kim Hoa Quang Phật,
Nam mô Hư Không Bảo Hoa Quang Phật,
Nam mô Lưu Ly Trang Nghiêm Vương Phật,
Nam mô Phổ Hiện Sắc Thân Quang Phật,
Nam mô Bất Ðộng Quang Phật,
Nam mô Hàng Phục Chúng Ma Vương Phật,
Nam mô Thiên Quang Minh Phật,
Nam mô Từ Tuệ Thắng Phật,
Nam mô Di Lặc Tiên Quang Phật,
Nam mô Thế Tịnh Quang Phật,
Nam mô Thiện Tịch Nguyệt Âm Phật,
Nam mô Diệu Tôn Trí Vương Phật,
Nam mô Bảo Cái Ðăng Vương Phật,
Nam mô Long Chưởng Thượng Trí Tôn Vương Phật,
Nam mô Nhật Nguyệt Quang Phật,
Nam mô Nhật Nguyệt Châu Quang Phật,
Nam mô Tuệ Phan Thắng Trang Nghiêm Vương Phật,
Nam mô Vô Cấu Tạng Phật,
Nam mô Quang Minh Tướng Phật,
Nam mô Kim Viêm Quang Minh Phật,
Nam mô Kim Diệm Quang Minh Tạng Phật,
Nam mô Sư Tử Hống Tự Tại Lực Vương Phật,
Nam mô Diệu Âm Thắng Phật,
Nam mô Thường Quang Tràng Phật,
Nam mô Quan Thế Ðăng Vương Phật,
Nam mô Tuệ Y Ðăng Vương Phật,
Nam mô Pháp Thường Thắng Vương Phật,
Nam mô Tu Di Quang Phật,
Nam mô Tu Ma Na Hoa Quang Phật,
Nam mô Ưu Bát La Hoa Quang Phật,
Nam mô Cường Thắng Lực Vương Phật,
Nam mô Tuệ Lực Vương Phật,
Nam mô A Sơ Tỳ Hoan Hỷ Quang Phật,
Nam mô Vô Lượng Âm Thanh Vương Phật,
Nam mô Tài Quang Phật,
Nam mô Kim Hải Quang Phật,
Nam mô Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương Phật,
Nam mô Ðại Thông Quang Phật,
Nam mô Nhất Thiết Pháp Thường Mãn Vương Phật,
Nam mô Hiện Vô Ngu Phật,
Nam mô Quá Khứ Vô Lượng Phân Thân Chư Phật.
Nam mô Quá khứ nhất Phật, thập Phật, bách Phật, thiên Phật, vạn Phật, năng trừ vô lượng kiếp, dĩ lai sinh tử trọng tội.
Nam mô nhất ức, thập ức, bách ức, thiên ức, vạn ức, na do tha, hằng hà sa, vô lượng a tăng kỳ Phật.
.
.
.

HỒNG DANH CHƯ PHẬT VỊ LAI

Nam mô Vị lai Hiền Kiếp Vô lượng chư Phật.
Nam mô Di Lặc Phật.
Nam mô Tịnh Thân Phật,
Nam mô Hoa Quang Phật,
Nam mô Quang Minh Phật,
Nam mô Hoa Túc Phật,
Nam mô Danh Tướng Phật,
Nam mô Diêm Phù Na Ðề Kim Quang Phật,
Nam mô Pháp Minh Phật,
Nam mô Bảo Minh Phật,
Nam mô Phổ Minh Phật,
Nam mô Phổ Tướng Phật,
Nam mô Phổ Quang Phật,
Nam mô Sơn Hải Tuệ Phật,
Nam mô Mục Tại Thông Vương Phật,
Nam mô Bảo Trang Nghiêm Phật,
Nam mô Phất Sa Phật,
Nam mô Bách Ức Tự Tại Ðăng Vương Phật,
Nam mô Bảo Tướng Phật,
Nam mô Hỷ Kiến Phật,
Nam mô Nhị vạn Quang Tướng Trang Nghiêm Phật,
Nam mô Tam vạn Ðồng Hiệu Phổ Ðức Phật,
Nam mô Vân Lôi Âm Vương Phật,
Nam mô Tứ vạn Bát Thiên Ðịnh Quang Phật,
Nam mô Bảo Nguyệt Vương Phật,
Nam mô Ly Cấu Quang Phật,
Nam mô Diệu Sắc Phật,
Nam mô Diệu Sắc Quang Minh Phật,
Nam mô Phá Nhất Thiết Chúng Nan Phật,
Nam mô Chúng Hương Phật,
Nam mô Chúng Thanh Phật,
Nam mô Thập Thiên Quang Minh Trang Nghiêm Phật,
Nam mô Bát Thiên Ức Trang Nghiêm Quang Minh Phật,
Nam mô Bảo Hoa Trang Nghiêm Phật,
Nam mô Thượng Thủ Ðức Vương Phật,
Nam mô Tử Kim Quang Minh Phật,
Nam mô Ngũ Bách Thụ Ký Hoa Quang Phật,
Nam mô Na La Duyên Bất Hoại Phật,
Nam mô Hảo Hoa Trang Nghiêm Phật,
Nam mô Kim Cương Ðịnh Tự Tại Phật,
Nam mô Vị lai nhất Phật, thập Phật, bách Phật, thiên Phật, vạn Phật, hay trừ trọng tội sinh tử vô lượng kiếp đến nay.
Nam mô nhất ức, thập ức, bách ức, thiên ức, vạn ức na do tha hằng hà sa vô lượng a tăng kỳ Phật.
.
.
.

HỒNG DANH CHƯ ĐẠI BỒ TÁT

Nam mô Thập phương Vô Lượng Chư Đại Bồ tát,
Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ tát,
Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát,
Nam mô Ðắc Ðại Thế Bồ tát,
Nam mô Thường Tinh Tiến Bồ tát,
Nam mô Bất Hưu Tức Bồ tát,
Nam mô Bảo Chưởng Bồ tát,
Nam mô Dược Vương Bồ tát,
Nam mô Dược Thượng Bồ tát,
Nam mô Dũng Thí Bồ tát,
Nam mô Bảo Nguyệt Bồ tát,
Nam mô Nguyệt Quang Bồ tát,
Nam mô Mãn Nguyệt Bồ tát,
Nam mô Ðại Lực Bồ tát,
Nam mô Vô Lượng Lực Bồ tát,
Nam mô Việt Tam Giới Bồ tát,
Nam mô Bạt Ðà Bà La Bồ tát,
Nam mô Di Lặc Bồ tát,
Nam mô Bảo Tích Bồ tát,
Nam mô Ðạo Sư Bồ tát,
Nam mô Ðức Tạng Bồ tát.
Nam mô Nhạo Thuyết Bồ tát,
Nam mô Long Thụ Bồ tát,
Nam mô Bảo Ðàn Hoa Bồ tát,
Nam mô Thượng Hạnh Bồ tát,
Nam mô Vô Biên Hạnh Bồ tát,
Nam mô An Lập Hạnh Bồ tát,
Nam mô Tịnh Hạnh Bồ tát,
Nam mô Ðà La Ni Bồ tát,
Nam mô Kim Cương Na La Duyên Bồ tát,
Nam mô Thường Bất Khinh Bồ tát,
Nam mô Túc Vương Hoa Bồ tát,
Nam mô Hỉ Kiến Bồ tát,
Nam mô Diệu Âm Bồ tát,
Nam mô Ðức Cần Tinh Tiến Lực Bồ tát,
Nam mô Vô Tận Ý Bồ tát,
Nam mô Tịnh Tạng Bồ tát,
Nam mô Tịnh Nhãn Bồ tát,
Nam mô Phổ Hiền Bồ tát,
Nam mô Diệu Ðức Bồ tát,
Nam mô Từ Thị Bồ tát,
Nam mô Thiện Tư Nghị Bồ tát,
Nam mô Không Vô Bồ tát,
Nam mô Thần Thông Hoa Bồ tát,
Nam mô Quang Anh Bồ tát,
Nam mô Tuệ Thượng Bồ tát,
Nam mô Trí Tràng Bồ tát,
Nam mô Tịnh Căn Bồ tát,
Nam mô Nguyện Tuệ Bồ tát,
Nam mô Hương Tượng Bồ tát,
Nam mô Bảo Anh Bồ tát,
Nam mô Trung Trụ Bồ tát,
Nam mô Chế Hạnh Bồ tát,
Nam mô Giải Thoát Bồ tát,
Nam mô Pháp Tạng Bồ tát,
Nam mô Ðẳng Quan Bồ tát,
Nam mô Bất Ðẳng Quan Bồ tát,
Nam mô Vô Ðẳng Bất Ðẳng Quan Bồ tát,
Nam mô Ðịnh Tự Tại Vương Bồ tát,
Nam mô Pháp Tự Tại Vương Bồ tát,
Nam mô Pháp Tướng Bồ tát,
Nam mô Quang Tướng Bồ tát,
Nam mô Quang Nghiêm Bồ tát,
Nam mô Ðại Nghiêm Bồ tát,
Nam mô Bảo Tích Bồ tát,
Nam mô Biện Tích Bồ tát,
Nam mô Bảo Thủ Bồ tát,
Nam mô Bảo Chưởng Bồ tát,
Nam mô Bảo Ấn Thủ Bồ tát,
Nam mô Thường Cử Thủ Bồ tát,
Nam mô Thường Hạ Thủ Bồ tát,
Nam mô Thường Thảm Bồ tát,
Nam mô Hỷ Căn Bồ tát,
Nam mô Hỷ Vương Bồ tát,
Nam mô Biện Âm Bồ tát,
Nam mô Hư Không Tạng Bồ tát,
Nam mô Nhiếp Bảo Cự Bồ tát,
Nam mô Bảo Dũng Bồ tát,
Nam mô Bảo Kiến Bồ tát,
Nam mô Ðế Võng Bồ tát,
Nam mô Minh Võng Bồ tát,
Nam mô Vô Duyên Quán Bồ tát,
Nam mô Tuệ Tích Bồ tát,
Nam mô Bảo Thắng Bồ tát,
Nam mô Thiên Vương Bồ tát,
Nam mô Hoại Ma Bồ tát,
Nam mô Ðiện Ðức Bồ tát,
Nam mô Tự Tại Vương Bồ tát,
Nam mô Công Ðức Tướng Nghiêm Bồ tát,
Nam mô Sư Tử Hống Bồ tát,
Nam mô Lôi Âm Bồ tát,
Nam mô Sơn Tướng Kích Âm Bồ tát,
Nam mô Hương Tượng Bồ tát,
Nam mô Bạch Hương Tượng Bồ tát,
Nam mô Diệu Sinh Bồ tát,
Nam mô Hoa Nghiêm Bồ tát,
Nam mô Phạm Võng Bồ tát,
Nam mô Bảo Trượng Bồ tát,
Nam mô Vô Thắng Bồ tát,
Nam mô Nghiêm Ðộ Bồ tát,
Nam mô Kim Kế Bồ tát,
Nam mô Châu Kế Bồ tát,
Nam mô Quang Nghiêm Ðồng Tử Bồ tát,
Nam mô Trì Thế Bồ tát,
Nam mô Thiện Ðức Bồ tát,
Nam mô Nan Thắng Bồ tát,
Nam mô Chiếu Minh Bồ tát,
Nam mô Hoa Quang Bồ tát,
Nam mô Bảo Ðàn Hoa Bồ tát,
Nam mô Tát Ðà Ba Luân Bồ tát,
Nam mô Ðàm Vô Kiệt Bồ tát,
Nam mô Pháp Tự Tại Bồ tát,
Nam mô Ðức Thủ Bồ tát,
Nam mô Bất Tuẫn Bồ tát,
Nam mô Ðức Ðính Bồ tát,
Nam mô Thiện Tú Bồ tát,
Nam mô Thiện Nhãn Bồ tát,
Nam mô Diệu Tý Bồ tát,
Nam mô Phất Sa Bồ tát,
Nam mô Sư Tử Bồ tát,
Nam mô Sư Tử Ý Bồ tát,
Nam mô Phù Giải Bồ tát,
Nam mô Na La Duyên Bồ tát,
Nam mô Thiện Ý Bồ tát,
Nam mô Hiện Kiến Bồ tát,
Nam mô Phổ Thủ Bồ tát,
Nam mô Ðiện Quang Bồ tát,
Nam mô Hỷ Kiến Bồ tát,
Nam mô Minh Tướng Bồ tát,
Nam mô Diệu Ý Bồ tát,
Nam mô Vô Tận Ý Bồ tát,
Nam mô Thâm Tuệ Bồ tát,
Nam mô Tịch Căn Bồ tát,
Nam mô Vô Ngại Bồ tát,
Nam mô Thượng Thiện Bồ tát,
Nam mô Phúc Ðiền Bồ tát,
Nam mô Hoa Nghiêm Bồ tát,
Nam mô Ðức Tạng Bồ tát,
Nam mô Nguyệt Thượng Bồ tát,
Nam mô Bảo Ấn Thủ Bồ tát,
Nam mô Châu Ðính Vương Bồ tát,
Nam mô Lạc Thực Bồ tát,
Nam mô Tuệ Kiến Bồ tát,
Nam mô Ðăng Vương Bồ tát,
Nam mô Thâm Vương Bồ tát,
Nam mô Hoa Vương Bồ tát,
Nam mô Diệu Sắc Bồ tát,
Nam mô Thiện Vấn Bồ tát,
Nam mô Thiện Ðáp Bồ tát,
Nam mô Liễu Tướng Bồ tát,
Nam mô Ðịnh Tướng Bồ tát,
Nam mô Phát Hỷ Bồ tát,
Nam mô An Trụ Bồ tát,
Nam mô Phố Ma Bồ tát,
Nam mô Tuệ Thí Bồ tát,
Nam mô Cứu Thoát Bồ tát,
Nam mô Tuệ Ðăng Bồ tát,
Nam mô Dũng Thí Bồ tát,
Nam mô Trí Ðạo Bồ tát,
Nam mô Nguyện Tuệ Bồ tát,
Nam mô Tứ Nhiếp Bồ tát,
Nam mô Giáo Âm Bồ tát,
Nam mô Hải Diệu Bồ tát,
Nam mô Pháp Hỷ Bồ tát,
Nam mô Ðạo Phẩm Bồ tát,
Nam mô Tổng Trì Bồ tát,
Nam mô Từ Vương Bồ tát,
Nam mô Ðại Tự Tại Bồ tát,
Nam mô Phạm Âm Bồ tát,
Nam mô Diệu Sắc Bồ tát,
Nam mô Bảo Ðàn Lâm Bồ tát,
Nam mô Sư Tử Âm Bồ tát,
Nam mô Diệu Thanh Bồ tát,
Nam mô Diệu Sắc Hình Bồ tát,
Nam mô Chủng Chủng Trang Nghiêm Bồ tát,
Nam mô Thích Chàng Bồ tát,
Nam mô Ðính Sinh Bồ tát,
Nam mô Minh Vương Bồ tát,
Nam mô Ðại Quang Bồ tát,
Nam mô Sa Ðề Bồ tát,
Nam mô Mật Tích Bồ tát,
Nam mô Hoa Diệm Bồ tát,
Nam mô Thượng Thủ Bồ tát,
Nam mô Phổ Hiện Sắc Thân Bồ tát,
Nam mô Thần Thông Bồ tát,
Nam mô Hải Ðức Bồ tát,
Nam mô Vô Biên Thân Bồ tát,
Nam mô Vô Y Vương Tự Tại Bồ tát,
Nam mô Ca Diếp Bồ tát,
Nam mô Vô Cấu Tạng Vương Bồ tát,
Nam mô Trì Nhất Thiết Bồ tát,
Nam mô Cao Quý Ðức Vương Bồ tát,
Nam mô Lưu Ly Quang Bồ tát,
Nam mô Vô Úy Bồ tát,
Nam mô Hải Vương Bồ tát,
Nam mô Sư Tử Hống Bồ tát,
Nam mô Ðà La Ni Bồ tát,
Nam mô Na La Duyên Bồ tát,
Nam mô Tín Tướng Bồ tát,
Nam mô Trì Ðịa Bồ tát,
Nam mô Quang Nghiêm Bồ tát,
Nam mô Quang Minh Bồ tát,
Nam mô Ðại Biện Bồ tát,
Nam mô Từ Lực Bồ tát,
Nam mô Ðại Bi Bồ tát,
Nam mô Y Vương Bồ tát,
Nam mô Y Lực Bồ tát,
Nam mô Y Ðức Bồ tát,
Nam mô Phổ Tế Bồ tát,
Nam mô Phổ Nhiếp Bồ tát,
Nam mô Ðịnh Quang Bồ tát,
Nam mô Phổ Quang Bồ tát,
Nam mô Chân Quang Bồ tát,
Nam mô Câu Lâu Bồ tát,
Nam mô Thiên Quang Bồ tát,
Nam mô Bảo Vương Bồ tát,
Nam mô Di Quang Bồ tát,
Nam mô Giáo Ðạo Bồ tát,
Nam mô Ðạo Sư Bồ tát,
Nam mô Ðại Nhẫn Bồ tát,
Nam mô Hoa Vương Bồ tát,
Nam mô Hoa Tích Bồ tát,
Nam mô Tuệ Quang Bồ tát,
Nam mô Hải Tuệ Bồ tát,
Nam mô Kiên Ý Bồ tát,
Nam mô Thích Ma Nam Bồ tát,
Nam mô Kim Quang Minh Bồ tát,
Nam mô Kim Tạng Bồ tát,
Nam mô Thường Bi Bồ tát,
Nam mô Pháp Thượng Bồ tát,
Nam mô Tài Thủ Bồ tát,
Nam mô Sơn Quang Bồ tát,
Nam mô Sơn Tuệ Bồ tát,
Nam mô Ðại Minh Bồ tát,
Nam mô Tổng Trì Bồ tát,
Nam mô Sơn Vương Bồ tát,
Nam mô Ðăng Vương Bồ tát,
Nam mô Sơn Ðính Bồ tát,
Nam mô Sơn Chàng Bồ tát,
Nam mô Sơn Vương Bồ tát,
Nam mô Phục Ma Bồ tát,
Nam mô Lôi Âm Bồ tát,
Nam mô Vũ Vương Bồ tát,
Nam mô Lôi Vương Bồ tát,
Nam mô Bảo Luân Bồ tát,
Nam mô Bảo Anh Bồ tát,
Nam mô Bảo Thủ Bồ tát,
Nam mô Bảo Tạng Bồ tát,
Nam mô Bảo Minh Bồ tát,
Nam mô Bảo Ðịnh Bồ tát,
Nam mô Bảo Ấn Bồ tát,
Nam mô Bảo Tràng Bồ tát,
Nam mô Bảo Nghiêm Bồ tát,
Nam mô Bảo Thủy Bồ tát,
Nam mô Bảo Quang Bồ tát,
Nam mô Bảo Ðăng Bồ tát,
Nam mô Bảo Hiện Bồ tát,
Nam mô Bảo Tạo Bồ tát,
Nam mô Lạc Pháp Bồ tát,
Nam mô Tịnh Vương Bồ tát,
Nam mô Ðính Tướng Bồ tát,
Nam mô Kim Quang Bồ tát,
Nam mô Bảo Kế Bồ tát,
Nam mô Thiên Quang Bồ tát,
Nam mô Nguyên Hiểm Bồ tát,
Nam mô Chiếu Vị Bồ tát,
Nam mô Nguyệt Biện Bồ tát,
Nam mô Nguyệt Quang Bồ tát,
Nam mô Pháp Luân Bồ tát,
Nam mô Quang Tịnh Bồ tát,
Nam mô Thường Thí Bồ tát,
Nam mô Phổ Ðức Bồ tát,
Nam mô Phổ Minh Bồ tát,
Nam mô Thắng Tràng Bồ tát,
Nam mô Nhu Âm Bồ tát,
Nam mô Ðức Viêm Bồ tát,
Nam mô Tướng Quang Bồ tát,
Nam mô Hải Nguyệt Bồ tát,
Nam mô Hải Tạng Bồ tát,
Nam mô Thắng Nguyệt Bồ tát,
Nam mô Tịnh Tuệ Bồ tát,
Nam mô Siêu Quang Bồ tát,
Nam mô Nguyệt Ðức Bồ tát,
Nam mô Nhật Quang Bồ tát,
Nam mô Kim Cương Bồ tát,
Nam mô Viên Chàng Bồ tát,
Nam mô Tôn Ðức Bồ tát,
Nam mô Hải Minh Bồ tát,
Nam mô Hải Quang Bồ tát,
Nam mô Chiếu Cảnh Bồ tát,
Nam mô Tuệ Minh Bồ tát,
Nam mô Công Ðức Bồ tát,
Nam mô Minh Ðạt Bồ tát,
Nam mô Mật Giáo Bồ tát,
Nam mô Tu Na Bồ tát,
Nam mô Sắc Lực Bồ tát,
Nam mô Ðiều Phục Bồ tát,
Nam mô Ẩn Thân Bồ tát,
Nam mô Nhất Bồ tát, nam mô thập Bồ tát, nam mô bách Bồ tát, nam mô thiên Bồ tát, nam mô vạn Bồ tát, nam mô nhất bách vạn Bồ tát, nhị bách vạn, tam bách vạn, tứ bách vạn, ngũ bách vạn, lục bách vạn, thất bách vạn, bát bách vạn, cửu bách vạn, thiên thiên vạn chư đại Bồ tát Ma ha tát, hay trừ sinh tử tội nặng từ vô lượng kiếp đến nay.
Nam mô Nhất ức, thập ức, bách ức, thiên ức, vạn ức, nam mô vạn vạn chư đại Bồ tát Ma ha tát, hay trừ sinh tử trọng tội từ vô luợng kiếp đến nay.
Nam mô Nhất na do tha, thập na do tha, bách na do tha, thiên na do tha, vạn na do tha, nam mô vạn vạn na do tha chư đại Bồ tát Ma ha tát hay trừ sinh tử trọng tội từ vô lượng kiếp đến nay.
Nam mô nhất hằng hà sa, nam mô nhị hằng hà sa, nam mô tam hằng hà sa, nam mô tứ hằng hà sa, nam mô ngũ hằng hà sa, nam mô lục hằng hà sa, nam mô thất hằng hà sa, nam mô bát hằng hà sa, nam mô cửu hằng hà sa, nam mô thập hằng hà sa, nam mô bách hằng hà sa, nam mô bách ức vô lượng hằng hà sa chư đại Bồ tát Ma ha tát, hay trừ sinh tử trọng tội từ vô lượng kiếp đến nay.