Thứ Tư, 12 tháng 12, 2012

Phổ Hiền Bồ Tát





Phổ Hiền Bồ tát (dịch âm là Tam mạn đà bạt đà la, hoặc Tam mạn đà bạt đà, Samantabhadra). Phổ là biến khắp, Hiền là Đẳng giác Bồ tátPhổ Hiền là vị Bồ tát Đẳng giác có năng lực hiện thân khắp mười phương pháp giới, tùy mong cầu của chúng sanh mà hiện thân hóa độ. Ngài là một trong những vị Bồ Tát quan trọng trongPhật giáo Đại thừa. Theo kinh Pháp Hoa, Ngài là vị Bồ tát ở quốc độ của Phật Bảo Oai Đức Thượng Vương Như Lai, phía Đông cõi Ta Bà, nghe thế giới này thuyết kinh Pháp Hoa liền lãnh đạo năm trăm vị Đại Bồ tát đến nghe pháp và phát tâm hộ trì Chánh pháp của Đức Phật Thích Ca.
Phổ Hiền được xem là người hộ vệ của những ai tuyên giảng đạo pháp và đại diện cho "Bình đẳng tính trí" tức là trí huệ thấu hiểu cái nhất thể của sự đồng nhất và khác biệt. Bồ Tát Phổ Hiền hay được thờ chung với Phật Thích-ca và Bồ Tát Văn-thù-sư-lợi (Mañjuśrī). Bồ Tát cưỡi voi trắng sáu ngà, voi trắng tượng trưng cho trí huệ vượt chướng ngại, sáu ngà cho sự chiến thắng sáu giác quan. Trong hệ thống Ngũ Phật, Phổ Hiền được xem ở trong nhóm của Phật Đại Nhật (Vairocana). Biểu tượng của Phổ Hiền là ngọc như ýhoa sen, có khi là trang sách ghi thần chú của Bồ Tát. Tại Trung Quốc, Phổ Hiền được xem là một trong bốn Đại Bồ Tát, trú xứ của Phổ Hiền là núi Nga Mi, nơi Bồ Tát lưu trú sau khi cỡi voi trắng từ Ấn Độ sang Trung Quốc 

Trong Kim cương thừa, tên Phổ Hiền được sử dụng chỉ Bản Sơ Phật (ādi-buddha), hiện thân của Pháp thân (dharmakāya). Phổ Hiền này (không phải vị Đại Bồ Tát) được vẽ với màu xanh đậm, tượng trung cho tính Không. Tranh tượng cũng vẽ Phổ Hiền hợp nhất với nữ thần sắc trắng, tượng trưng cho sự nhất thể. Trong phép Đại thủ ấn (mahāmudrā), thân của Phổ Hiền là Báo thân (saṃbhogakāya) và đóng một vai trò trung tâm.

Thân trạng

Samntabhadra biểu thị từ tâm và Phật pháp. Ngài thường sánh đôi với Văn Thù Sư lợi và cả hai được coi là những cao đồ của Thích Ca Mâu Ni, có lẽ từng là đệ tử thực sự của vị Phật lịch sử. Ngài là vị đầu tiên trong Ngũ Thiền Bồ Tát, tương ứng với Ngũ Thiền Phật của Bắc Tông. Ngài ngụ hướng Đông, ở Tây Tạng, có thời người ta thờ ngài như là Nhiên Đang Cổ Phật ( Adi Buddha ), nhưng hiện nay chỉ còn những tín đồ của tông Ninh Mã ( Nyingma) giữ tín đồ đó Một vài phái Mật Tông ở vùng Hy Mã Lạp Sơn cho rằng chính vị bồ tát này chứ không phải Đại Nhật Phật là đấng sáng tạo ra Mật Tông Phật Giáo, trong đó tín đồ tìm cách hỗi thông và hợp nhất với thần linh. Ở Trung Quốc Phổ Hiền hầu như luôn luôn được thờ phụng chung với Thích Ca và Văn Thù. Tại Nhật Bản và nhiều vùng khác ngài cũng được thờ phượng qua hình tướng mật nhiệm Fugen Emmei Bosatsu (Phổ Hiền mệnh Bồ Tát).


Biểu thị và Tùy Khí

Phổ Hiền thường xuất hiện trong bộ ba cùng với Thích Ca và Văn Thù Sư Lợi gọi là Thích Ca Tam Tôn, ( Sakya Shanzon). Ngài đứng bên phải, còn Văn Thù đứng bên trái và có khi họ được vây quanh bởi mười sáu thiên thần bảo vệ cho kinh Bát Nhã. Ngài thường xuất hiện như một Bồ Tát với vương miện và y trang đầy ắp châu báu như một ông hoàng và nhiều tranh ảnh tượng, ngài cưỡi voi trắng 6 ngà, voi trắng tượng trưng cho chiến thắng 6 giác quan. Tùy khí của ngài chính là chiến thắng sáu giác quan. Tùy khí của ngài chính là viên bảo châu mà ngài thường cầm nơi tay trái hoặc tay phải cầm hoa sen, trên đó hoa là viên viên bảo châu. Trong nhiều biểu thị, một trong hai bàn tay ngài bắt ấn giáo hóa, với ngón cái và ngón trỏ, chạm nhau thành hình tam giác. Trong những hình ảnh khác ngài cầm cuộn kinh hay kim cương chử nơi tay trái, trong tranh tượng ở Nhật Bản, Phổ Hiền Dương Mệnh Bồ Tát được trình bày với ba mươi hai tay ngồi trên voi trắng bốn đầu hoặc trên bốn voi trắng. Trong hội hoa Phật giáo Mật tông ngài được thể hiện bằng màu xanh lục hay màu vàng. Trong những ảnh tượng của tông Nyingma Tây Tạng, Phổ Hiền trong tư thế Yab-Yum ở trung tâm của Mạn Đà la Shi-tro, Mạn Đà La của Thái Hòa. Tuy nhiên có khi vị Bồ Tát này cũng được biểu thị trong hình tướng phẫn nộ được gọi là Chemchok Heruka. Trong hình tướng này, ngài là vị thần có cánh với thân hình màu nâu đỏ sẫm có ba mặt, sáu tay và bốn chân, thường được miêu tả trong tư thế ôm gùi lấy người phối ngẫu màu đỏ tươi.


Sự tích Phổ Hiền Bồ Tát

Khi Đức Phổ Hiền Bồ Tát chưa xuất gia học đạo, còn làm con thứ tư của vua Vô Tránh Niệm, tên là Năng Đà Nô.

Nhờ Phụ Vương khuyên bảo, nên Thái Tử mới phát tâm cúng dường Phật Bảo Tạng và chúng sanh trong ba tháng.

Lúc ấy có quan Đại thần Bảo Hải thấy vậy, khuyên rằng: “Nay Điện hạ có lòng làm đặng món công đức rất tốt như thế, xin hãy hồi hướng về Đạo Vô Thượng Bồ Đề, mà cầu đặng thành Phật, hơn là cầu sự phước báu hữu lậu nơi cõi nhơn Thiên, vì cõi ấy còn ở trong vòng sinh tử”.

Năng Đà Nô Thái Tử nghe quan Đại thần khuyên bảo như vậy, liền thưa với Phật Bảo Tạng rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Nay tôi có món công đức cúng dường Ngài và đại chúng trong ba tháng, xin hồi hướng về đạo vô thượng Chánh Giác, nguyện phát tâm Bồ đề, tu hạnh Bồ tát mà giáo hóa mọi loài chúng sanh, đặng thành Phật đạo, và nguyện đặng cõi Phật rất thanh tịnh trang nghiêm, bao nhiêu những sự tốt đẹp và sự giáo hóa chúng sanh đều y như thế giới của Đức Phổ Hiền Như Lai vậy”.

Đức Bảo Tạng Như Lai nghe Năng Đà Nô Thái Tử phát nguyện như thế, liền thọ ký rằng: Lành thay! Lành thay! Ngươi phát thệ nguyện rộng lớn, muốn độ hết thảy chúng sanh đều thành Phật Đạo. Trong khi tu Bồ tát đạo, dùng trí kim cang mà phá nát các núi phiền não của mọi loài chúng sanh, vì vậy nên ta đặt hiệu ngươi là: Kim Cang Trí Huệ Quang Minh Công Đức, trải hằng sa kiếp làm nhiều công việc Phật sự rất lớn, rồi đến thế giới Bất Huyến ở phương Đông mà thành Phật, hiệu là Phổ Hiền Như Lai, chừng đó những sự tốt đẹp trang nghiêm của ngươi đã cầu nguyện thảy đều thỏa mãn”.

Khi Đức Bảo Tạng Như Lai thọ ký rồi, tự nhiên giữa hư không có nhiều vị Thiên tử ở các cõi Trời đem đủ thứ bông thơm đẹp đến mà cúng dường và đồng thinh khen ngợi.

Năng Đà Nô Thái Tử thưa với Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Nếu những sự ao ước của tôi ngày sau quả nhiên đặng như lời Ngài thọ ký, nay tôi kính lễ Ngài và chư Phật mà xin làm sao hằng sa thế giới có đủ món hương rất tốt rất thơm, mùi bay khắp trong các cõi, và mọi chúng sanh, hoặc ở trong địa ngục, ngạ quỷ cùng súc sanh, cho đến các người ở cõi Thiên Thượng Nhơn gian, đương mắc phải nghiệp báo gì, nếu ngửi đặng món hương thơm ấy, tức thì đều đặng rảnh khổ và lại hưởng sự an vui”.

Năng Đà Nô Thái Tử thưa rồi, đương cúi đầu mà lễ Phật, thì trong các thế giới mười phương tự nhiên có mùi hương thơm bay khắp cả. Lúc đó mọi loài chúng sanh ngửi đặng mùi hương ấy, lòng dạ hớn hở, các bệnh phiền não thảy đều tiêu trừ. Năng Đà Nô Thái Tử nhờ Phật thọ ký như vậy, thân tâm vui mừng, bèn đảnh lễ Phật, rồi ngồi xuống nghe Ngài thuyết Pháp.

Năng Đà Nô Thái Tử nhờ công đức đó, nên sau khi mạng chung, sanh ra các thân khác và các đời khác, kiếp nào cũng nhờ lời thệ nguyện mà chăm làm các việc Phật sự và hóa độ chúng sanh, đặng cầu cho mau viên mãn những sự của mình đã ao ước.

Bởi Ngài có lòng tu hành tinh tấn như vậy, nên nay đã thành Phật, ở cõi Bất Huyến, và hóa thân vô số ở trong các thế giới mà giáo hóa chúng sanh.

Quân Trà Lợi Minh Vương


Đức Đặc Biệt 

Quân Trà Lợi Minh Vương, hay thành tựu vô lượng trăm ngàn pháp, thanh tịnh tất cả tội, chữa khỏi các bệnh Quỷ Mỵ Dã Đạo, tiêu diệt bệnh biến quái ác,cũng trừ tất cả độc, tránh xa các tai ách về thú ác, nạn trộm cướp, nạn vua chúa, tự bảo vệ mình bảo vệ người, sống lâu không bệnh an ổn khoái lạc.

Quân Trà Lợi Minh Vương (Tên Phạn là: Kundah, Kundali), dịch âm là Quân Trà Lợi, dịch ý là cái bình. Trong Mật Giáo cái bình là tượng trưng cho Cam Lộ, cho nên lại dịch là Cam Lộ Quân Trà Lợi, là 1 trong 5 Đại Minh Vương của Mật Giáo, là Giáo Lệnh Luân Thân (Thân phẫn nộ) của Đức Phật Bảo Sinh ở phương nam. Quân Trà Lợi Minh Vương dùng phương tiện Từ Bi, Thành Chứng Đại Uy Nhật Luân để chiếu diệu cho người tu hành. Và rưới rót nước Cam Lộ, dùng để tẩy rửa 3 độc phiền não trong đất Tâm của chúng sinh. Nhân đây lại gọi là Cam Lộ Quân Trà Lợi Minh Vương ( Amriti-kundali, A Mật Lợi Đế Minh Vương ). Mà Cam Lộ ( Tên Phạn là: Amrta),dịch âm là A Mật Lật Đa, Á Mật Lí Đạt, dịch ý là Bất Tử, chất nước Bất Tử, Cam Lộ…. Tương truyền khi uống vào có thể sống lâu chẳng chết. Trong “ Chú Duy Ma Cật Kinh “ nói, chư Thiên dùng mọi loại thuốc hay bỏ vào trong biển, dùng núi báu khuấy đảo để khiến thành Cam Lộ, khi uống vào thì được thành Tiên. Nên có tên là thuốc Bất Tử. Trong Phật pháp, dùng Niết Bàn Cam Lộ khiến sinh tử bị cắt đứt vĩnh viễn, đó mới thật là thuốc Bất Tử. Ngoài ra, cũng có thuyết nói Quân Trà Lợi có 3 bộ, gọi là: Cam Lộ Quân Trà Lợi ( Phật Bộ), Kim Cang Quân Trà Lợi ( Kim Cang Bộ) với  Liên Hoa Quân Trà Lợi ( Liên Hoa Bộ).

Nhân vì thị hiện tướng phẫn nộ, hình mạo lại tựa như thân Dạ Xoa, cho nên cũng gọi là Quân Trà Lợi Dạ Xoa Minh Vương ( Kundalì-yaksas). Ngoài ra, cũng có cách gọi khác là “ Đại Tiếu Minh Vương “. Liên quan đến công đức tụng trì Quân Trà Lợi Minh Vương Chân Ngôn hoặc tu trì Quân Trà Lợi Minh Vương Pháp, trong “ Tây Phương Đà La Ni Tạng Trung Kim Cang Tộc A Mật Lí Đa Quân Trà Lợi Pháp “ nói: tu Pháp này hay diệt tất cả tội, được đại phú quý, cũng hay trừ tất cả sự sợ hãi, cũng hay trừ sự đói khát, hay lợi ích cho tất cả chúng sinh. Hoặc vào quân trận, hoặc có đấu tranh mà cầm cờ hiệu thảy đều được thắng, vô lượng trăm ngàn Pháp đều được thành tựu. Có thể trị bệnh Quỷ Mỵ Dã Đạo với bảo vệ bản thân mình và bảo vệ người khác, sống lâu không có bệnh. Lại nói, Quân Trà Lợi Tam Muội Gia Đàn, có lợi ích lớn, là nơi mà Chư Phật, Bồ Tát với các Hàng Trời Rồng đều khen ngợi. Nếu đã gây tạo mọi loại nghiệp tội trong vô lượng đời, ấy là Địa Ngục Súc Sinh…. Ngày nay, lúc này liền được thanh tịnh. Thảy đều đoạn trừ các Đại Địa Ngục, đóng bít các cửa Địa Ngục, mở ra các cổng Trời. Tất cả Tưởng ác, mộng ác, tai ách thảy đều tiêu diệt, tất cả oan gia đều sinh tưởng bạn lành. Tất cả La Sát, Dược Xoa, Tì Xá Già, Cổ Độc, Yểm Cổ, Trà Di Nê các thuật chú ác chẳng thể gây hại. Tất cả Quỷ Thần Ma Để Lí…. đều sẽ ủng hộ, như đứa con một không khác. 
Nếu có người tu Pháp ấy, thì dao chẳng thể hại, lửa chẳng thể thiêu đốt, tất cả nạn vua chúa, nạn trộm cướp, nạn oan gia, rồng ác, sấm sét cũng chẳng thể gây hại, tất cả nơi tranh luận thảy đều được thắng. Không sợ hãi loài Quỷ ở nước và núi….sẽ được sống lâu an ổn khoái lạc. Tất cả yêu kính, tiền tài giàu có; Gấu Heo, Gấu Chó, Đại Trùng, Sư Tử, Cọp, Sói, Voi trắng cũng chẳng thể gây hại, cũng chẳng chết đột ngột, Chư Phật, Bồ Tát thường nghĩ nhớ, bốn vị Đại Thiên Vương thường theo ủng hộ, với 28 bộ Dược Xoa Đại Tướng, Tuyết Sơn Dược Xoa Đại Tướng, tất cả Trì Chú Tiên, Nhân Vương, Tất cả Kim Cang, Chư Thiên, Quỷ Thần, Sứ Giả, Thủ Hộ Ấn Thần với các Giáo Thủ…. Hàng Trời Quỷ Thần của nhóm như vậy, ủng hộ người vào Đàn, như là con một, lại có công đức vô lượng vô biên. Trong Kinh lại có nói Pháp trừ mọi thứ bệnh sống lâu: 
  
_ Nếu có người ăn phải thuốc độc, thì lấy nước thơm rửa Chày Kim Cang, rồi lấy nước đó Chú 21 biến, đốt An Tất Hương, rồi cho người đã ăn thuốc độc ấy, uống vào liền được trừ khỏi. 

_ Nếu bị rắn độc cắn phải, lấy đất màu vàng Chú 21 biến, rồi hòa với nước thơm làm bùn xoa chỗ vết cắn, hoặc dùng đuôi con công phủi phết chỗ vết cắn, liền trừ tất cả độc. 

_ Nếu người không có Phước Đức, người bị bệnh ác biến quái…. Như Pháp tu trì tức trừ được tất cả biến quái ác, nạn bị bệnh lâu dài…. Liền được trừ khỏi. Hình tượng của Quân Trà Lợi Minh Vương, thông thường có 4 mặt 4 cánh tay, hoặc có 1 mặt 8 cánh tay. Căn cứ trong “ Quân Trà Lợi Nghi Quỹ “ đã ghi chép. Khuôn mặt của tượng 4 mặt 4 cánh tay biểu thị cho Tình đều chẳng giống nhau, mặt chính là mặt Từ Bi, mặt bên phải là mặt phẫn nộ, mặt bên trái là mặt đại tiếu, mặt ở phía sau là mặt há miệng hơi giận. Toàn thân màu hoa sen xanh, ngồi trên bàn đá. 4 mặt 4 cánh tay tượng trưng cho 4 loại pháp là Tức Tai, Giáng Phục, Kính Ái, Tăng Ích. Ngoài ra cũng có nói là chỉ 4 loại phiền não căn bổn là Ngã Si, Ngã Kiến, Ngã Mạn, Ngã Ái trong thức thứ 7. 
  
  
  
Trong “ Bạch Bảo Khẩu Sao “ thì nói, tay phải cầm cái Chày Kim Cang, tay tác Mãn Nguyện Ấn, 2 tay tác Yết Ma Ấn. Thân đeo vòng hoa rực lửa có uy quang trụ trong vành trăng, màu hoa sen xanh, ngồi trên bàn đá phát ra tiếng vang (Sắt sắt thạch bàn), mặt chính là mặt hiền lành, mặt thứ 2 là mặt phẫn nộ, mặt thứ 3 là mặt đại tiếu, mặt thứ  4 ở phía sau há miệng hơi giận. Lại nói, tay phải cầm cái Chày Kim Cang là Bổn Thệ Giáng Phục, có ý nghĩa là tồi phá tất cả phiền não, nghiệp ác của chúng sinh. Tay trái tác Mãn Nguyện Ấn là Bổn Thệ Tăng Ích, có ý nghĩa là khiến cho thành tựu mọi sự cầu nguyện của tất cả chúng sinh. 2 tay tác Yết Ma Ấn, là Tổng Tam Muội Gia nghĩa là Yết Ma Thành Tựu là Tác Nghiệp Thành Tựu, cho nên tuy không có người Hành công sức tác nghiệp mà vẫn vận chuyển thành tựu mọi sở nguyện, giáng phục ác nghiệp phiền não. 

Lại nói, tai đeo vòng hoa rực lửa có uy quang biểu thị cho Bồ Tát Trí Hỏa thiêu đốt hết Tà Trí của Nhị Thừa Ngoại Đạo. Ngồi trên bàn đá phát ra tiếng vang biểu thị cho Tâm Tịnh Bồ Đề, toàn bộ biểu thị cho sự không nghiêng động. Còn như tạo hình Quân Trà Lợi Minh Vương có 1 mặt 3 con mắt 8 cánh tay, là đầu đội mão đầu lâu, mắt mở to,  rất giận dữ, và có 2 con rắn đỏ thòng ở trước ngực. 8 cánh tay, Bên Phải: Tay ở trên cầm cái Chày Kim Cang, co cánh tay hướng lên trên; Tay thứ 2 ở dưới cầm Tam Xoa 2 đầu có mũi nhọn dài, co cánh tay hướng lên trên; cánh tay thứ 3 ở dưới đè lên cánh tay thứ 3 bên trái, 2 cánh tay bắt chéo nhau ở trước ngực, 2 tay đều tác Bạt Chiết La Ấn; Cánh tay thứ 4, ngữa rũ hướng xuống dưới, gần hông phải, duỗi 5 ngón tay, là tác Thí Vô Úy Thủ. Bên trái: Tay ở trên cầm Kim Luân Hình ( Hình bánh xe vàng), co cánh tay hướng lên trên; tay thứ 2 ở dưới, ngón giữa hạ xuống, 3 ngón đều co lại hướng vào lòng bàn tay, ngón cái vịn bên cạnh đốt trên ngón giữa, ngón trỏ dựng thẳng, duỗi hướng lên trên, co khuỷu tay lại, cánh tay hướng về bên trái; tay thứ 4 ở dưới, đặt ngang che kín hông trái, đầu ngón tay hướng về bên phải. Trong “ Tây Phương Đà La Ni Tạng Trung Kim Cang Tộc A Mật Lí Đa Quân Trà Lợi Pháp “ nói, bên trái Đức Phật vẽ Kim Cang Quân Trà Lợi, nên tác tướng đáng sợ. Bên phải: Tay ở trên cầm cái Chày Kim Cang, lần lượt tay cầm cây Búa, kế đến tay ở dưới cầm cây Kiếm, tiếp theo tay cầm cái Chùy. Bên trái: Tay cầm sợi dây lụa, lần lượt tay ở dưới cầm cây Giáo, kế đến tay cầm Bánh Xe; tiếp theo tay cầm cây Gậy, trên cây Gậy an 2 con mắt. Hai tay chắp lại để ngang trái Tim, mắt màu hơi đỏ, răng nanh hướng lên trên, tóc ở trên đầu dựng thẳng như màu lửa rực, toàn thân có ánh sáng lửa rực, mọi thứ anh lạc trang nghiêm thân đó, môi trên cắn môi dưới, thân đó đứng chân đạp trên hoa sen xanh. Pháp Quân Trà Lợi Minh Vương phần nhiều dùng Điều Phục, Tức Tai, Tăng Ích làm phương diện. Nếu như người tu hành mỗi ngày trước khi ăn, dâng cúng 1 ít đồ ăn, rồi sau hãy niệm tụng Quân Trà Lợi Minh Vương Tâm Chú 7 biến, thì bất luận ở nơi nào đều được sự gia hộ của Minh Vương. Ngoài ra,Quân Trà Lợi Minh Vương Chân Ngôn cũng thường dùng để phụ trợ tu trì Mật Pháp khác, hoặc dùng để gia trì vật cúng. Hành Giả như pháp tu trì, cũng có thể đạt được hiệu nghiệm trừ tất cả chướng nạn, khỏi bệnh, sống lâu. 
 
CHÂN NGÔN, CHỮ CHỦNG TỬ CỦA QUÂN TRÀ LỢI MINH VƯƠNG 
 
 
Chân Ngôn: 
 
  (1) Nẵng mô     (2) la đát nẵng đát la dạ dã     (3) nẵng ma     (4) thất chiến nã    
(5) ma ha phộc nhật la câu lộ đà dã     (6) án     (7) hộ lỗ     (8) hộ lỗ     (9) để sắt
tra     (10) để sắt tra     (11) mãn đà     (12) mãn đà     (13) hạ nẵng     (14) hạ
nẵng     (15) a mật lí đế     (16) hồng     (17) phát tra     (18) sa phộc hạ
 
(1) NAMO     (2) RATNA-TRAYÀYA     (3) NAMA (?NAMAH)    (4) A’SCANDA
(?’SCANDA)  (5) MAHÀ-VAJRA-KRODHÀYA     (6) OM     (7) HURU     (8) 
HURU     (9) TISTHA (?TISTA)   (10) TISTHA (?TISTA)    (11) BANDHA     (12)
BANDHA     (13) HANA     (14) HANA     (15) AMRTA     (16) HÙM     (17) PHAT     
(18) SVÀHÀ
 
(1) Quy mạng     (2) Tam Bảo     (3) Quy mạng     (4) Bạo Ác     (5) Đại Kim Cang 
Phẫn Nộ     (6) Quy mạng     (7) Tốc Tật ( Bệnh tật nhanh chóng)     (8) Tốc Tật     
(9) An Trú     (10) An Trú     (11) Hệ Phộc     (12) Hệ Phộc     (13) Sát Hại     (14) 
Sát Hại     (15) Cam Lộ     (16) Phẫn ( Giận)     (17) Tồi Phá     (18) Thành Tựu       
             
Đại Tiếu Minh Vương Chân Ngôn 
 
(1) Án     (2) phộc nhật la tra hạ sa dã     (3) hồng phán tra
 
(1) OM     (2) VAJRÀTTAHÀSÀYA  (?VAJRATHÀHÀSÀYA)   (3) HÙM  PHAT 
 
(1) Quy mạng     (2) làm Kim Cang Đại Tiếu     (3) Phẫn Nộ Tồi Phá 

Bất Động Minh Vương



Đức Đặc Biệt

Bất Động Minh Vương Đối với việc hộ trì mạng căn của chúng sinh, có công đức thù thắng, chữ chủng tử (HAM) là Phong Luân, đại biểu cho hơi thở ra vào của sinh mạng, ý nghĩa là sống lâu, hay trừ chết yểu, bệnh đại dịch với tai nạn đại ách.

Bất Động Minh Vương (Tên Phạn là: Acalanàtha), là 1 trong 5 Đại Minh Vương hoặc là 1 trong 8 Đại Minh Vương của Mật Giáo, lại gọi là Bất Động Kim Cang Minh Vương, Bất Động Tôn, Vô Động Tôn, Vô Động Tôn Bồ Tát, mật hiệu là Thường Trụ Kim Cang. 

Bất Động Minh Vương, thông thường được thấy là Ứng Hóa Thân của Đại Nhật Như Lai, nhận Giáo Mạng của Như Lai, thị hiện Tướng Phẫn Nộ, thường Trụ ở Hỏa Sinh Tam Muội, thiêu đốt chướng nạn trong ngoài với các uế cấu ( dơ bẩn), bẻ gãy dập tắt tất cả Ma Quân Oán Địch. Trong “ Thắng Quân Bất Động Nghi Quỹ “, Bất Động Minh Vương thệ nguyện rằng: “ Nếu có người nào thấy thân Ta thì được Tâm Bồ Đề. Nghe tên Ta thì chặt đứt được Nghi Hoặc liền tu Thiện. Nghe ta nói thì được Đại Trí Tuệ. Biết Tâm ta thì Tức Thân Thành Phật”. 

Ngoài việc này ra, Bất Động Minh Vương đối với việc hộ trì mạng căn của chúng sinh cũng có công đức thù thắng. Trong “ Thắng Quân Quỹ “ nói rằng: “ Pháp Bất Động, ý nghĩa là hay bảo hộ Tâm Bồ Đề, tức bảo hộ chư Phật Bồ Tát, chúng sinh Bồ Đề. Bảo Hộ chư Phật Bồ Đề, phàm thể của Tâm Bồ Đề là Thức thứ 8, Thức này tức là chư Phật, thức này vô thủy vô chung có hiệu là Vô Lượng Thọ Phật, tất cả Mạng Căn của chúng sinh đều gìn giữ trên Thức thứ8, Mạng Căn này bảo hộ khiến bất động, tức Bất Động Minh Vương vậy. Bảo hộ chúng sinh Bồ Đề, phàm gìn giữ Phong Luân của thế giới sự, ấy là tuổi thọ của tất cả chúng sinh, tức là gió của hơi thở, hơi thở ngưng thì chết, Bất Động bảo vệ hơi thở của cõi Phật, hơi thở của chúng sinh”. Trong “ Thâm Bí Khẩu Quyết “ lại nói, chữ chủng tử của Bất Động Minh Vương đại biểu cho Bổn Thệ thọ mạng lâu dài của tất cả chúng sinh: “Dùng chữ (HÙM) làm chủng tử, Bất Động Minh Vương này đặc biệt có bổn thệ sống lâu, chữ (HÀM) làm chủng tử, tuổi thọ của con người tức là hơi thở, hơi thở là gió Sớ 10 nói rằng: “Mạng gọi là Gió, Gió là Tưởng, Tưởng là Niệm, Mạng Căn như vậy là Tưởng hơi thở ra vào, hơi thở ra vào của sinh mạng, chữ (HÀM), Phong Luân … có ý nghĩa là sống lâu. 

Cho nên “ Lập Ấn Tạp ” nói rằng: 

“Lại khi chính báo dứt
Hay sống được sáu tháng”

Y theo văn này mà Tu Pháp Diên Mạng vậy. Trong “ Giác Thiền Sao “ cũng đề cấp đến Tôn này trừ bỏ tai nạn chết đột ngột: “ Thời Ô Vũ Viện cai quản, thiên hạ liên tiếp bị chết đột ngột, liền Triệu việc Pháp chặn đứng nạn bị chết đó. Có thể Tu theo Pháp nào? Có thể xem xét bày tỏ việc Pháp, bày tỏ 
rằng: “Có thể Tu pháp Bất Động vậy”. Quỹ nói rằng: Pháp trừ chết yểu, dùng cỏ Cốt Lự thấm với Tô, Sữa, Mật làm thành Hộ Ma 10 vạn biến, hay trừ ách nạn lớn, ấy là người dân trong nước bị chết yểu bởi dịch bệnh lưu hành, cho nên tên là Yểu Tử Nạn. Lại nói rằng: Pháp trừ tai nạn chết chóc, dùng Sữa làm Hộ Ma, 1000 biến làm hạn định, hay trừ tai nạn chết chóc. 

“ Để Lí Kinh “ cũng nói: “ Lại dùng cỏ Câu Lũ hòa với Tô, Sữa , 
Mật…. rưới vào trong lửa đốt 10 vạn biến, hay trừ bệnh đại dịch “.

Tam Muội Gia Hình của Bất Động Minh Vương, tay phải cầm Kiếm, chặt đứt việc xấu xa phiền não nghiệp ái sinh tử của chúng sinh, cho nên cầm 
dao bén vâng theo Sắc Mạng Phẫn Nộ của Như Lai, muốn sát hại hết tất cả chúng sinh, lại dùng dao Lợi Tuệ chặt đứt mạng thọ nghiệp vô cùng của chúng sinh, khiến được sinh mạng Đại Không.

Ngoài ra, trong quyển 5 “ Đại Nhật Kinh Sớ “ kể lại, Bất Động Tôn thành Phật tuy đã lâu, vẫn dùng Bổn Thệ nguyện Tam Muội Gia. Thị hiện Nô Bộc Tam Muội, là Như Lai Đồng Bộc làm mọi việc, cho nên lại có tên là Bất Động Sứ Giả, Vô Động Sứ Giả, thọ nhận sự cúng dường thức ăn còn dư lại của Hành Giả, ngày đêm thường ủng hộ Hành Giả, khiến thành mãn Bồ Đề.


Quyến thuộc của Bất Động Minh Vương là có 2 Đồng Tử, 8 Đồng Tử hoặc 48 Sứ Giả…. Trong đó 2 Đồng Tử là chỉ Căng Yết La và Chế Tra Ca Đồng Tử. 8 Đại Đồng Tử là chỉ: Tuệ Quang Đồng Tử, Tuệ Hỷ Đồng Tử, A Nậu Đạt Bồ Tát Đồng Tử, Chỉ Đức Bồ Tát Đồng Tử, Ô Câu Nga Bà Đồng Tử, Thanh Tịnh Tỳ
Kheo Đồng Tử với 2 vị Đồng Tử là Căng Yết La và Chế Tra Ca. Tín ngưỡng Bất Động Tôn, xuyên qua việc truyền bá Mật Giáo ở các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bổn, Hàn Quốc đều có. Đặc biệt là ở Nhật Bổn, Bất Động Minh Vương nhận được sự sùng bái nhiệt liệt của dân gian, đến nơi này có thể thấy Tôn Tượng Bất Động Minh Vương, Mạn Trà La với Pháp cúng dường. 

TÔN HÌNH CỦA BẤT ĐỘNG MINH VƯƠNG 

Trong Truyền Thừa, Kinh Điển, Bất Động Minh Vương có nhiều các Pháp Tướng khác nhau, tùy duyên mà thị hiện. Căn cứ trong “ Đại Nhật Kinh. Phẩm Cụ Duyên “, “ Để Lí Tam Muội Gia Kinh “…. kể lại: Tay phải cầm Kiếm, biểu thị cho đoạn trừ Phiền Não Ma.Tay trái cầm sợi dây, biểu thị cho Phương Tiện Tự Tại. Trên đỉnh có 7 búi tóc, ngồi trên tảng đá, là Thân Tướng rất thường thấy. Như trong “ Bất Động Sứ Giả Pháp “ nói về Ngài rằng: “ Nên vẽ Bất Động Sứ Giả, thân màu vàng đỏ, tà áo bên trên nghiêng về một bên có màu xanh, cái Xiêm bên dưới có màu đỏ, bên trái có 1 búi tóc màu mây đen, tướng mạo Đồng Tử. Tay phải cầm chày Kim Cang, tay trái cầm sợi dây, 2 răng nanh nhỏ hơi ló ra hai bên, mắt giận dữ có màu đỏ, ngồi trên núi đá trong lửa rực.Nhưng trong “ Để Lí Pháp “ thì ghi chép rằng: Vẽ Bất Động Tôn, mặc áo màu đất đỏ, bím tóc bên trái rũ xuống, mắt nhìn nghiêng, hình Đồng Tử. Tay phải cầm chày Kim Cang để ở ngang trái Tim, tay trái cầm cây gậy báu, mắt hơi đỏ, ngồi trên Hoa Sen, tướng sân nộ, khắp thân rực lửa. Ngoài ra, Bất Động Minh Vương cũng có Pháp Tượng nhiều cánh tay, như trong “ An Trấn Quỹ” kể lại rằng: “ Có 4 cánh tay, thân Phẫn Nộ rất nghiêm, màu xanh cam đầy đủ sự đoan nghiêm, mắt miệng đều mở, răng nanh bén ló lên trên, tay phải cầm Kiếm, tay trái cầm sợi dây, hai cánh tay trên ở hai bên miệng, Tác Phẩn Nộ Ấn, thân ở trong bánh xe Kim Cang có 8 căm”. Trong 12 Trời của thế gian, thì dùng Bất Động Tôn của 4 cánh tay này làm thủ lĩnh.

CHÂN NGÔN, CHỮ CHỦNG TỬ CỦA BẤT ĐỘNG MINH VƯƠNG 

Chữ Chủng Tử: ( HMMÀM) hoặc ? ( HÀM) hoặc ? (HÙM)

Chân Ngôn: 
{ Trung Chú} ( Từ Cứu Chú)
(1) Năng mạc (2) tam mạn đa phộc nhật la noãn (3) chiến nã (4) ma
ha lộ sái nã (5) tát pha tra dã (6) hồng (7) đát la ca (8) hãn mạn

(1) NAMAH (2) SAMANTA-VAJRÀNÀM (3) CANDA (4) MAHÀ-
ROSANA (5) SPHATAYA (6) HÙM (7) TRAKA (TRÀT) (8) HÀM
MÀM (1) Quy mạng (2) phổ biến các Kim Cang (3) Bạo Ác (4) Đại Phẫn Nộ
(5) Phá Hoại ( 6) Hồng ( Nghĩa là sợ hãi) (7) Kiên Cố (8) Hãn Mạn
(chủng tử )

{Tiểu Chú}
(1) Nam ma (2) tam mạn đa phạt chiết la noãn (3) hãn 
(1) NAMAH (2) SAMANTA-VAJRÀNÀM (3) HÀM 
(1) Quy mạng (2) phổ biến các Kim Cang (3) hãn ( chủng tử) 

{Thí Thực Chân Ngôn} 

(1) Năng mạc (2) tam mạn đa phộc nhật la noãn (3) đát la tra (4) a 
mô gia (5) chiến nã (6) ma hạ lộ sái trữ (7) sa pha tra dã (8) hồng 
(9) đát la ma dã (10) hồng (11) đát la tra (12) hàm mâu
(1) NAMAH (2) SAMANTA-VAJRÀNÀM (3) TRAT (4) AMOGHA 
(5) CANDA (6) MAHÀ-ROSANA (7) SPHATAYA (8) HÙM (9) 
TRAMAYA (10) HÙM (11) TRAT (12) HÀM MÀM

(1) Quy mạng (2) phổ biến các kim Cang (3) Đát La Tra ( nghĩa là tàn hại 
phá chướng) (4) Bất Không (5) Bạo Ác (6) Đại Phẫn Nộ (7) Phá Hoại 
(8) Hồng ( nghĩa là sợ hãi) (9) Kiên Cố (10) Hồng (11) Đát La
Tra(nghĩa là tàn hại phá chướng) (12) Hàm Mâu ( chủng tử) 

HÀNG TAM THẾ MINH VƯƠNG


Hàng Tam Thế Minh Vương theo phong cách Đông Mật Nhật Bản.



Đức Thánh-tôn này cũng là một trong số năm Đại Minh-vương. Ngôi vị Ngài ở phương Đông, tức Ngài là thân phẫn nộ của Phật A-súc ở đông phương. 

Có một thuyết trong Bà-la-môn giáo nói Ngài là thân biến hoá của chủ-thần Thấp-bà. Tên chữ Phạn của Ngài là Trailokya-vajra ‘Đát-lệ-lộ-ca-phạ-nhật ra’ dịch là Hàng Tam-thế, hoặc Thắng Tam-thế Minh-vương, Phẫn nộ Nguyệt Yểm, Bạt-Chiết La-Hồng.

Trong Mạn-trà-la của Kim-cang giới đức Minh-vương này là thân phẫn nộ của Kim-cang tát đỏa. Tại hội Hàng Tam-thế Yết-ma và Hàng Tam-thế Tam-muội-đa, Ngài giữ vị-trí chủ tọa.

Trong Mạn-trà-la của Thai-tạng giới, Ngài chủ trì Minh-viện ở góc Tây-bắc.
Hình tượng của đức Thánh-tôn này, thông thường thân Ngài có bốn mặt, 8 cánh tay, tướng rất ác, rất giận dữ, màu đen, chân trái mạnh có sức đứng đạp trên đầu của đại Tự-tại thiên. Chân phải đứng đạp nhẹ trên mình Thiên-phi Ô-ma biểu-thị tư-tưởng dứt trừ phiền-não chướng và sở-tri chướng. Đại Tự-taị thiên biểu-thị dũng tánh thô-bạo cho nên phải dùng sức mạnh để đạp giữ. Thiên-phi Ô-ma biểu-thị tánh nhu-nhược của phái nữ, cho nên đạp nhẹ để giữ.

Trong Hàng Tam-Thế Cực Thâm Mật Môn có ghi hình tướng của Thánh-tôn này như sau: “Nếu nói về Hàng Tam-thế du-già thì dùng hai tay ấn nơi tim, bên phải một tay cầm chuông ngũ cổ, còn tay phẫn nộ thì làm tay giơ thẳng lên cầm tên và kiếm. Bên trái một tay cầm chuông ngũ cổ, kế đến cầm cung, rồi đến tay cầm dây. Tất cả đều duỗi thẳng cánh. Đầu có bốn mặt: mặt chính màu xanh; mặt bên phải màu vàng; mặt bên trái màu lục; mặt sau màu hồng. Các mặt đều giận dữ, Tự-tại thiên-vương và thiên phi làm tòa; do đó, có thể biết đây là một loại hình tượng của Ngài.

Hình tượng phổ thông của Ngài chẳng nhiều quá hai, ba loại: có loại ba mặt tám tay, tượng đứng hoặc ngồi trên đài sen. Có loại hai tay, có loại ngồi trên bàn thạch; vật cầm trong tay cũng chẳng thống-nhất. Thông thường thấy tượng bốn mặt, tám tay, chân đạp Đại-thiên và Hậu-phi. 


Hàng Tam Thế Minh Vương, Phạn danh Trailokya-vijaya (hay còn là Trailokya Vajra), Hán dịch hữu thắng tam thế, Thánh Tam thế, Nguyệt Yểm Tôn, Kim Cang tồi phá giả, Phẫn nộ Trì Minh Vương tôn đẳng danh, thị Mật Giáo ngũ đại minh vương chi nhất, nghĩ phối Ngũ phương Phật, tắc vi đông phương a, Phật đích giáo lệnh luân thân, Phẫn Nộ Thân, do vu tha năng hàng phục chúng sanh tam thế đích tham sân si, cập tam giới chi chủ - đại Tự Tại Thiên, sở dĩ danh vi hàng tam thế.
Tại Kim Cang Giới Mạn-Đà-La trung, trình Kim Cang Tát Đỏa chi phẫn nộ hình, vi Đại Nhật Như Laisở hóa hiện, cư 
Hàng Tam-thế hội cập Hàng Tam-thế Tam Muội da hội chi đông phương nguyệt luân trung, hựu, vu Thai Tạng Giới Mạn-Đà-La tắc cư trì minh viện trung, y mật giáo sở truyện, tu tập Hàng Tam-thế Minh Vương pháp đích chủ yếu công năng thị điều phục, vưu kì thị hàng phục thiên ma, như quả trì tụng thử nhất minh vương đích chân ngôn, tắc vô lượng vô biên ma giới lập khắc hội khổ não nhiệt não, phàm hữu ý kiền nhiễu tu hành giả đích chư ma quyến chúc, thính đáo thử nhất minh vương đích chân ngôn thì, bất đãn vô pháp kế tục tác chướng, thậm chí thành vi tu hành đích phó tòng, tu tập thử nhất Minh Vương Pháp, diệc năng dĩ thử hoạch đắc đả thắng trượng, trừ bệnh đắc nhân kính ái đẳng công đức.

Chuẩn Đề Bồ Tát



Chuẩn Đề Bồ Tát, hay Phật Mẫu Chuẩn Đề tên Phạn là CundìCunïdïhi, tên Hán văn là Thất Câu Chi Phật Mẫu hay Thất Câu Đê Phật Mẫu. Ngài là một trong lục quan âm của Phật Giáo, trong Tạng Giới Mạn Đà La ghi Chuẩn Đề là một trong 3 vị Phật Mẫu thuộc Biến Tri Viện.

Thân vi phật mẫu

Thân vị Bồ-tát nầy có màu vàng trắng hay màu vàng lợt, ngồi kiết gia trên đài sen, có hào quang tỏa sáng xung quanh, mình mặc thiên y, trên đầu trang điểm ngọc anh lạc. Đầu đội mão báu có ngọc lưu ly rũ treo, có 18 tay đều đeo vòng xuyến khảm Xà Cừ và mỗi tay đều cầm các loại khí cụ biểu thị cho các Tam Muội Gia, gồm có 3 mắt. Vị Bồ-tát nầy chuyên hộ trì Phật pháp và bảo hộ những chúng sinh có mạng sống ngắn ngủi được thọ mạng lâu dài. Pháp môn tu hành của vị Bồ-tát nầy là trì tụng bài chú: Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đà Câu chi nẫm, đát diệt tha: án, chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha.
Hiện thân của Chuẩn Đề Bồ Tát có nhiều hình hài, nhưng chân thân của Ngài như sau: Bửu tượng của Ngài có nhiều vẻ quang minh tốt đẹp, đều chiếu diệu cả mình, còn thân tướng thì sắc vàng mà có lằn điển quang trắng.
Ngài chỉ ngồi kiết già, trên thì đắp y, còn dưới thì mặc xiêm đều trọn một sắc trắng mà có bông, lại có đeo chuỗi anh lạc và trên ngực có hiện ra một chữ “vạn”.
Còn hai cườm tay có đeo hai chiếc bằng ốc trắng, hai bên cánh tay trỏ có xuyến thất châu coi rất xinh lịch, lại hai trái tai có được ngọc bửu đương và trong các ngón tay đều có đeo vòng nhỏ.
Trên đầu thì đội mão Hoa quang, trên mão ấy có hóa hiện ra 5 vị Như Lai.
Nơi mặt Ngài có 3 con mắt, trong mỗi con mắt ấy coi rất sắc xảo, dường như chăm chỉ ngó các chúng sanh mà có ý sanh lòng từ mẫn vậy.
Toàn thân của Ngài có mười tám cánh tay, mỗi bên chín cánh.
Hai bàn tay ở trên hết thì kiết ấn Chuẩn đề, như tướng đương lúc thuyết pháp.
Tay trái thứ hai cầm lá phướn như ý, còn tay mặt cầm cái thí vô úy.
Tay trái thứ ba cầm một bông sen đỏ, còn tay mặt cầm cây gươm.
Tay trái thứ tư cầm một bình nước, còn tay mặt cầm một xâu chuỗi Ni ma bửu châu.
Tay trái thứ năm cầm một sợi dây Kim cang, còn tay mặt cầm một trái la ca quả.
Tay trái thứ sáu cầm một cái bánh xa luân, còn tay mặt cầm một cái búa.
Tay trái thứ bảy cầm cái pháp loa, còn tay mặt cầm cái thiết câu.
Tay trái thứ tám cầm một cái bình như ý, còn tay mặt cầm một cái chày kim cang.
Tay trái thứ chín cầm một cuốn Kinh Bát nhã Ba La Mật, còn tay mặt cầm một xâu chuỗi dài.
Ngài ngồi trên tòa sen, dưới có hai vị Long Vương ủng hộ. Đó là bửu tượng của Ngài đại lược như vậy, nếu ai có lòng trì niệm, muốn chiêm vọng và quán tưởng, thì vọng niệm chẳng sanh mà chơn tâm hiển hiện.
Nếu công phu thuần thục lâu rồi, chẳng có chút gì gián đoạn, thì sẽ đặng phước quả rất rộng lớn, có ngày đạt tới nơi cực quả bồ đề nữa.
Trong Kim Cương Giới thì Chuẩn Đề được nhận biết dưới danh hiệu Kim Cương Hộ Bồ Tát (Ràksïa Bodhisattva) là một trong 4 vị Bồ Tát thân cận của Đức Phật Thích Ca ở phương Bắc.


Thần chú phật mẫu

Phạn Âm: 
Namo Saptanam Samyaksam Buddha Kotinam, Tadyatha: Om Cale Cule Cundi Svaha.

Hán Việt Âm:
Nam mô tát đa nẫm tam miệu tam bồ đề câu chi nẫm đát điệt tha
Úm, chiết lệ, chủ lệ, Chuẩn Đề ta bà ha
Đức phật chỉ rõ: Nếu có tỳ khưu, tỳ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di nào thọ trì đọc tụng thần chú này mãn 80 vạn biến thì những tội ngũ vô gián đã tạo từ vô lượng kiếp đến nay hết thảy đều được tiêu diệt. Sanh ra chỗ nào cũng gặp chư Phật và Bồ Tát, đời sống tư sanh tùy ý đầy đủ, đời đời thường được xuất gia, trì đủ luật nghi tịnh giới của Bồ Tát, thường sanh nhơn thiên, không đọa ác thú, thường được chư thiên thủ hộ. Nếu có những người tại gia nam nữ thường trì tụng, thì nhà kẻ ấy không có khổ não tai ương, bịnh khổ. Ra làm việc gì đều được hanh thông, nói ra lời gì đều được tín thọ.
Nếu tụng thần chú này mãn 10 vạn biến trong chiêm bao thấy được chư Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác tự thấy trong miệng mửa ra vật đen. Nếu có ngũ nghịch tội thì không được thấy những hảo mộng như vậy. Nên tụng mãn 70 vạn biến thì sẽ được thấy những tướng như trước cho đến mộng thấy mửa ra sắc trắng như sữa, cơm, vân vân thời phải biết người đó tội diệt, được tướng thanh tịnh.

Đại Nhật Như Lai





Đại Nhật Như Lai (VairocanaMahavairocana), hay Tỳ Lô Giá Na Phật (do phiên âm từ Vairocana) chính là Pháp thân của Phật Thích Ca. Trong Mạn Đà La của Mật giáo thì Đại Nhật Như Lai ở vị trí trung tâm. Ngài là biểu hiện của ánh sáng Trí Tuệ chiếu soi và diệt trừ bóng tối của vô minh.

Ý nghĩa Pháp thân Đại Nhật Như Lai


Theo quan điểm Đại Thừa thì Đức Phật có ba Thân: Pháp thân, Báo thân, Hóa thân. Sở dĩ có ba Thân là do chỗ dụng khác nhau. Phật Thích Ca, là Đức Phật lịch sử đã đản sinh và nhập diệt trên quả địa cầu này, chính là Hóa thân của Phật. Trong khi đó, thân mà Phật Thích Ca đã chứng ngộ gọi là Pháp thân, là Chân Như và đó là Đại Nhật Như Lai. Ý nghĩa Pháp thân này vượt ngoài sự luận bàn của ngôn từ và chỉ có sự chứng ngộ thành Phật mới có thể biết.


Đại Nhật Như Lai trong Mạn Đà La



Trong Kim Cương Giới Mạn Đà La, Đại Nhật Như Lai đại biểu cho Thức uẩn của Ngũ uẩn, Không đại của Ngũ đại, Pháp giới thể tánh trí của Ngũ trí, và có chủng tử tự là VAṂ.
Trong Thai Tạng Giới Mạn Đà La, phần Trung Đài Bát Diệp Viện có hình tượng hoa sen Bi Tâm tám cánh, thì Đại Nhật Như Lai là nhụy sen biểu tượng cho căn bản của sự tu tập giải thoát cần phải lấy Đại Bi làm gốc. Ngài đại biểu cho tâm viên mãn, tối thắng của hoa sen trắng tinh khiết, trang nghiêm, thanh tịnh. Chủng tử tự là ĀḤ.

Ý nghĩa tên gọi Đại Nhật Như Lai 


Đại Nhật Như Lai được dịch từ Vairocana, theo tiếng Phạn có nghĩa là "biến chiếu". Trong Đại Nhật Kinh Nghĩa Thích do sư Nhất Hạnh thuật ký giải thích: "Chữ Tỳ Lô Giá Na (vairocana) là mặt trời, có nghĩa là soi sáng cùng khắp, diệt trừ mọi chỗ u ám. Tuy nhiên đối mặt trời của thế gian, sự chiếu sáng có phương phận, chiếu sáng bên ngoài mà chẳng chiếu sáng bên trong, chiếu sáng bên này, chẳng đến bên kia, lại chỉ sáng ban ngày, còn ban đêm không thấy chiếu. Huệ Nhật của Như Lai không như thế. Trí sáng của Phật chiếu khắp mọi nơi, chẳng kể trong ngoài, không phân phương hướng, góc cạnh, đêm ngày."


Thần Chú Tỳ Lô Giá Na Như Lai


Om Namo Bhagavate Sarva Durgate
Var Sudhana Adzaya
Tadthagataya
Arhate Samyaksam Buddhaya
Tadyatha Om: Shudhane
Shudhana Sarva Papam Boushudhane Shoude
Bousude Sarva Gharmavarana
Bashudhanaye Svaha


Câu chú của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na có khả năng giúp khiến các hương linh, súc sanh, ngã quỷ, chúng sanh trong địa ngục để giúp các chúng sanh đó được thoát kiếp và được i sanh trong các cảnh giới lành.

Khi trì tụng thì hành giả phải phát tâm từ bi nhất tâm cầu nguyện cho các lchu1ng sanh đó được thoát khỏi kiếp khổ để đợc tái sanh trong các cảnh giới lành.

1)Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần vào trong thức ăn, nước uống để cúng thí cho các loài súc sanh và ngã quỷ.

2)Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào cát, đất v.v để rải trên hòm hay mồ mả của người chết.

3)Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào những chổ có nước như là ao hồ để giúp đỡ cho loài chúng sanh ở trong nước khi chết rồi được thoát kiếp và tái sanh trong các cảnh giới lành. 

Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai




Phật Dược Sư (tiếng Phạnbhaiṣajyaguru), còn gọi là Dược Sư Lưu Ly Quang Phật, (bhaiṣajyaguruvaidūrya-prabha-buddha), là vị Phật đại diện cho sự trọn vẹn của Phật quả ngự cõi phía đông (là cõi Tịnh Lưu Ly). Tranh tượng của vị Phật này hay được vẽ với tay trái cầm thuốc chữa bệnh và tay mặt giữ Ấn thí nguyện.
Phật Dược Sư thường được thờ chung với Phật Thích Ca Mâu Ni và A Di Đà, trong đó phật Dược Sư đứng bên trái còn Phật A Di Đà đứng bên phải Phật Thích Ca. Trong kinh Dược Sư, hiện nay chỉ còn bản chữ Hán và chữ Tây Tạng, người ta đọc thấy 12 lời nguyện của vị Phật này, thệ cứu độ chúng sinh, với sự giúp đỡ của chư PhậtBồ Tát và 12 vị Hộ Pháp và Thiên vương.
Tại Trung QuốcTây TạngNhật Bản và Việt Nam, Phật Dược Sư được thờ cúng rộng rãi.


Các lời nguyện của Phật Dược Sư

  1. Phát hào quang chiếu sáng mọi chúng sinh.
  2. Cho chúng sinh biết đến Nhất thiết trí của mình.
  3. Cho chúng sinh thực hiện được ước nguyện.
  4. Hướng dẫn chúng sinh đi trên đường Đại thừa.
  5. Giúp chúng sinh giữ giới hạnh.
  6. Giúp chúng sinh chữa lành các thứ bệnh do sáu giác quan sinh ra.
  7. Chữa bệnh thuộc về thân tâm cho mọi chúng sinh.
  8. Cho phụ nữ tái sinh trở thành nam giới.
  9. Tránh cho chúng sinh khỏi rơi vào tà kiến và giúp trở về chính đạo.
  10. Tránh cho chúng sinh khỏi tái sinh trong thời mạt pháp.
  11. Đem thức ăn cho người đói khát.
  12. Đem áo quần cho người rét mướt.

Đức Phật Dược Sư là giáo chủ thế giới Tịnh lưu Ly ở phương Đông. Theo kinh Dược Sư Như Lai Bản Nguyện Công Đức, nhờ trong khi tu hành Bồ tát đạo phát 12 đại nguyện giải trừ hết thảy bệnh khổ cho chúng sanh, khiến họ đầy đủ căn lành và hướng về giải thoát nên khi thành Phật, Ngài trụ ở thế giới Tịnh lưu ly, trang nghiêm như thế giới Cực lạc.

Phật Dược Sư, Phạn ngữ Bhaisajyaguru Buddha, Hán dịch là Dược Sư Như Lai, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Đại Y Vương Phật, Y Vương Thiện Thệ, Thập Nhị Nguyện Vương… Cũng như các Đức Phật trong mười phương, Đức Dược Sư có đầy đủ thập hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật-Thế Tôn.

Vấn đề trì niệm hồng danh Đức Dược Sư, mặc dù Ngài có nhiều danh hiệu nhưng trì niệm hồng danh thường là Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Phật hay Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Theo sách Dược Sư kinh sám (HT.Trí Quang dịch), phần Niệm Phật ghi rõ niệm Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Phật. Các hành giả tu tập pháp môn Tịnh độ, niệm danh hiệu Phật A Di Đà, phải đầy đủ Tín-Nguyện-Hạnh và niệm đến nhất tâm. Cũng vậy, khi tu tập pháp môn Dược Sư, hành giả niệm danh hiệu Phật Dược Sư cũng phải đầy đủ Tín-Nguyện-Hạnh. Có thể niệm thầm, niệm ra tiếng, lần tràng hạt v.v… và niệm cho đến nhất tâm giống như các phương thức niệm Phật A Di Đà.

Về ý nghĩa Thánh hiệu: Dược sư, nghĩa đen là thầy thuốc chữa bệnh. Lưu ly là một loại ngọc màu xanh trong suốt. Quang là ánh sáng. Lưu ly quang là ánh sáng ngọc lưu ly. Dược Sư Lưu Ly Quang Phật là vị Phật có danh hiệu Thầy thuốc chữa bịnh, ánh sáng như ngọc lưu ly (HT.Trí Quang, sđd, tr.203). Đức Dược Sư hiểu biết và thông suốt tất cả y dược của thế gian và xuất thế gian, Ngài có thể chữa trị hết tất cả những thứ bệnh khổ của chúng sanh, những điên đảo vọng tưởng do tham, sân, si phiền não gây ra. Ánh sáng của Phật Dược Sư thật không nghĩ bàn “Trong ngoài sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn, không có chút nhơ bợn, ánh quang minh chói lọi khắp nơi”. Ánh sáng ấy chiếu đến đâu đều phá hết tăm tối vô minh của chúng sanh, đem lợi lạc và diệt tất cả những bệnh khổ thân tâm của chúng sanh, khiến cho họ xa lìa mê vọng mà hướng đến giác ngộ, giải thoát.

Về công năng của việc trì niệm danh hiệu Phật Dược Sư, có thể nói là không thể nghĩ bàn. Theo kinh Dược Sư Như Lai Bản Nguyện Công Đức, đại dụng của danh hiệu Phật Dược Sư, điển hình có năm vấn đề sau:

Diệt sự tham lam mà phát tâm bố thí: Nhờ trì niệm danh hiệu Đức Dược Sư mà mở rộng tấm lòng, không còn tham lam, ích kỷ chỉ lo tích cóp cho riêng mình đồng thời luôn chia sẻ, ca ngợi và thực hành bố thí.

Diệt sự phạm tội mà được sự giữ giới: Đối với những tội lỗi, lầm lỡ đã gây tạo, nhờ niệm danh hiệu Ngài mà được chuyển hóa đồng thời phát nguyện sống đạo đức, lương thiện theo Chính pháp.

Diệt sự ganh ghét mà được sự giải thoát: Do nghiệp lực ganh ghét, đố kỵ người khác nên chịu quả báo hèn hạ, thống khổ. Niệm Phật Dược Sư sẽ khiến cho hành giả phát tâm tu học, diệt trừ khổ não, thành tựu giải thoát.

Diệt sự hại nhau mà được sự thương nhau: Những ý niệm oán kết, thù hận dẫn đến hành động tiêu diệt lẫn nhau, nhờ niệm danh hiệu Đức Dược Sư mà được hóa giải. Không những không còn làm hại nhau mà còn hiểu biết, thương yêu và tôn trọng lẫn nhau.

Được sanh Cực lạc hay các sự chuyển sanh khác: Đối với những hành giả phát tâm niệm Phật A Di Đà, cầu vãng sanh Cực lạc thì niệm Phật Dược Sư là một sự trợ duyên rất quan trọng. Chư Phật, các Đại Bồ tát trong pháp hội Dược Sư luôn trợ hóa cùng Phật A Di Đà, tiếp dẫn chúng sanh về Cực lạc. Ngoài ra, nhờ công đức tu tập Thánh hiệu Phật Dược Sư mà hành giả được đầy đủ phước báo, sanh về các thế giới an lành.

Ngoài ra, nhờ năng lực bổn nguyện của Phật Dược Sư, những chúng sanh thọ trì danh hiệu Ngài được tiêu trừ tất cả bệnh khổ và thành tựu mọi sở nguyện, sở cầu.