Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2012

Chia sẻ link download MP3 Thần Chú Phật Giáo



Hôm nay tôi xin post đường link download về những ca khúc MP3 Thần Chú mà tôi sưu tầm được rất hay, trầm lắng mà sôi nổi, như hòa vào tâm hồn người nghe vậy!

Thường xuyên mở những ca khúc này lên để nghe sẽ giúp tâm hồn được thư thái an nhàn, có thể giảm đi những căng thẳng trong đời sống, chưa tính những công năng về mặt tâm linh nữa.

Những ca khúc sau gồm có:

+Aum: Mp3 này là Thần Chú "Om" (Aum), dùng trong việc khai mở Luân Xa Tam Nhãn. "Om" là Chủng Tự biểu tượng cho Vũ Trụ. (*MP3 này mang công năng rất mạnh, nếu bạn muốn kiểm chứng thì bạn hãy để chế độ loa ngoài, hoặc đeo tai head-phone, cài volume ở chế độ càng lớn, thì kiểm chứng càng dễ dàng. Sau khi nghe xong, bạn hãy tự cảm nhận sự khác biệt của cơ thể mình xem, VD như cảm thấy những điểm trên cơ thể mình như điện chạy.
). 
Trì niệm: Om (kéo dài).
Link download:
+Bhaisajyaguru Dharani+Medicine Buddha Mantra+Medicine Buddha: MP3 này là Thần Chú Phật Dược Sư, có công năng vĩ đại bất khả tư nghị, mang lại cơm đủ ăn, áo đủ mặc. Người trì niệm còn làm tan biến những căn bệnh hiểm nghèo về thân và tâm, và vĩnh viễn không đọa vào ba đường ác, ngoài ra những người phát tâm cúng dường hoặc sanh tâm tán thán Đức Dược Sư Như Lai. Ngoài những công năng trên, người trì niệm Chú Dược Sư còn có thể phá trừ tà ma, yêu mị, ngải nghệ bùa chú v...v... và vô lượng công năng vi diệu khác.
Trì niệm: Tadyatha: Om Bekandze Bekandze Maha Bekandze Randzasamud Gate Shoha.
Link download: 
Bhaisajyaguru Dharani:
Medicine Buddha Mantra:
Medicine Buddha:
+Chú Đại Bi+Compassion Mantra: MP3 này là Thần Chú của Đức Quán Thế Âm Thập Nhất Diện, mang công năng bất khả tư nghị, có công năng tăng lòng Đại Bi Tâm, từ Đại Bi Tâm thì mọi người xung quanh sẽ sanh tâm yêu mến ta, những kẻ xấu xa sẽ khó lòng mà ám hại được. Trì niệm Thần Chú này, hành giả sẽ được Trời Người, Quỷ Thần ủng hộ phát tâm bảo vệ, tránh được tai ách kề thân. Hành giả trì tụng Thần Chú này sẽ luôn được Ngài Quán Thế Âm Thập Nhất Diện bảo vệ khỏi ma chướng, yêu mị, cùng cạm bẫy tai ách, và vô lượng công năng khác.
Trì niệm:
Namo Ratna Trayaya
Namo Arya Jnana
Sagara Vairochana
Byuhara Jara Tathagataya
Arahate Samyaksam Budhaya
Namo Sarwa Tathagate Bhyay Arhata Bhyah
Samyaksam Buddhe Bhyah
Namo Arya Avalokite
Shoraya Bodhisattvaya
Maha Sattvaya
Maha Karunikaya
Tadyata
Om Dara Dara
Diri Diri
Duru Duru
Itte We Itte Chale Chale
Purachale Purachale
Kusume Kusuma Wa Re
Illi Milli Chiti Jvalam Apanaya Shoha
Link download: 
Chú Đại Bi:
Compassion Mantra:
+Chuẩn Đề Thần Chú: MP3 này là một trong mười bài Thần Chú trong Thập Chú. 
Xuất Xứ: Phật Mẫu Chuẩn Đề Đà La Ni Kinh  
Công năng của Thần Chú này không thể nghĩ bàn được. Người trì tụng thần chú này đủ chín chục muôn biến, có thể diệt được các tội thập ác, ngũ nghịch, tiêu trừ tai nạn, bệnh hoạn, tăng nhiều phước thọ.
Nghĩa: 
Quy mạng bảy trăm triệu đấng Chính Đẳng Chính Giác - Chân ngôn nói rằng: Khi Thân, Khẩu, Ý hợp nhất với sự Giác Ngộ Phật Tính sẽ đi thẳng vào Tự Tính thanh tịnh của Tâm Bồ Đề và thọ nhận mùi vị an lạc của Đại Niết Bàn.
Trì niệm: Namo Saptanam Sammyaksam Buddhaya Kotinam. Tadyatha Om Cule Cule Cundi Shoha.
Link download:
+Công Ðức Bảo Sơn Thần Chú: MP3 này là một trong mười bài Thần Chú trong Thập Chú.
Xuất Xứ: Kinh Ðại Tập (Sutrasamuccaya)
Công năng của Thần Chú này không thể nghĩ bàn. Nếu người tụng chú này một biến, công đức cũng bằng như lễ Ðại Phật Danh kinh bốn vạn năm ngàn bốn trăm biến. Lại như chuyển Ðại Tạng 60 vạn 5 ngàn 4 trăm biến. Tạo tội quá mười cõi sát độ, đọa vào A Tỳ địa ngục chịu tội, kiếp hết lại sanh nơi khác để chịu tội. Niệm chú này một biến, tội kia đều được tiêu diệt, không còn đọa vào địa ngục, khi mạng chung quyết định vãng sanh Tây phương thế giới, được thấy Phật A Di Ðà, thượng phẩm thượng sanh.
Nghĩa:
Quy y Phật, Quy Y Pháp, Quy y Tăng.
Vinh quang thay sự thành tựu ! Hãy vui vẻ ôm giữ, khéo ôm giữ kho tàng Chân Như! Hãy khéo giữ gìn tự tính an lạc của Đại Niết Bàn.
Trì niệm: Namo Buddhaya, Namo Dharmaya, Namo Sanghaya.
Om Siddhi, Hoh Dhuru, Sudhuru, Garja, Garbha, Sadhari, Purni, Shoha.
+Dược Sư Quán Đảnh Chân Ngôn: Đây là một trong mười bài Thần Chú trong Thập Chú.
Xuất Xứ: Kinh Dược Sư 
Thần Chú này mang công năng bất khả tư nghị. Nếu ai có bệnh chi, chỉ chuyên nhất tâm đọc Thần Chú này 108 biến để Chú Nguyện vào ly nước sạch rồi uống thì các bệnh đều tiêu trừ. Còn người nào chuyên tâm trì tụng trọn đời thì được không đau ốm, đến lúc mạng chung được vãng sanh về thế giới Tịnh Lưu Ly bên Đông Phương của Phật Dược Sư.
Nghĩa:
Quy mạng Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai Ứng Cúng Chính Đẳng Chính Giác - Chân ngôn nói rằng: Xin Ngài hãy ban cho con thuốc diệt trừ bệnh Quả Báo, bệnh Nghiệp Ác, bệnh Kiến Tư, bệnh Trần Sa, bệnh Vô Minh để cho con mau chóng phát sinh được đạo quả Vô Thượng Bồ Đề.
Trì Niệm: 
Namo Bhagavate, Bhaisajya Guru, Vaiturya, Prabha, Rajaya Tathagataya, Arhate, Sammyaksam Buddhaya. Tadyatha, Om Bhaisajye Bhaisajye Bhaisajya Samudgate Shoha.
Link Download:
+Green Tara Mantra: MP3 này là Thần Chú của Đức Lục Độ Mẫu Tara, mang công năng bất khả tư nghị. Khi trì niệm Thần Chú, ví như hành giả đang trì niệm cùng một lúc 21 Thần Chú của 21 Đức Tara. Công năng của Thần Chú mạnh mẽ, như đang được 21 vị Tara độ trì vậy!
Trì niệm: Om Tare Tuttare Ture Shoha
Link Download:
http://www.mediafire.com/?rngbqvglb4hb99w 
+Khổng Tước Minh Vương Thần Chú: MP3 này là Đà Ra Ni của Đức Khổng Tước Minh Vương, mang công năng bất khả tư nghị, có công năng trừ khử: Ma Mỵ, độc dược, bệnh tật ác, trùng độc... Khi trì niệm Thần Chú này cũng như đang trì niệm danh hiệu của Ngài vậy.
Trì niệm: Om Mayura Krante Svaha
Link Download:
+Kim Cang Phổ Ba Thần Chú: MP3 này là Đà Ra Ni của Đức Kim Cang Phổ Ba, mang công năng bất khả tư nghị, có công năng bảo vệ hành giả khỏi thế lực hắc ám, linh lực của ma quỷ, và cũng có thể dễ dàng lãnh hội những kiến thức bí ẩn
Trì niệm: Om Vajra Kili Kilaya Sarva Vighanan Vam Hum Phat.
Link Download:
+Lăng Nghiêm Tâm Chú: MP3 này là Lăng Nghiêm Tâm Chú, thuộc Lăng Nghiêm Chú dài Năm Đệ, Tâm Chú này thuộc đoạn cuối của Đệ Ngũ. Thần Chú này là Thù Thắng, Vi Diệu nhất trong các Thần Chú, oai lực không thể nghĩ bàn, dùng để hàng phục Ma-Lăng-Già. Công năng của Chú Lăng Nghiêm gồm có1Tức tai Pháp. 2. Hàng phục Pháp. 3. Tăng ích Pháp. 4. Thành tựu Pháp. 5. Câu triệu Pháp.
Trì niệm: Om Anale Visade Vira Vajra Dhare Bandha Bandhani Vajra-Pani Phat Hum Trum Phat Svaha.
Link Download:
+Namo Amitabha: MP3 này là trì niệm Lục Tự Hồng Danh Nam Mô A Mi Đà Phật. Trì niệm thường xuyên, khi mạng chung (mất, chết) sẽ vãng sanh về Thế Giới Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Mi Đà.
Trì niệm: Namo Amitabha
Link Download:
+Như Ý Bảo Luân Vương Đà Ra Ni: MP3 này là do Ngài Quán Tự Tại tuyên thuyết Vô Chướng Ngại Quán Tự Tại Liên Hoa Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni. Đức Phật lại bảo: Nếu người nào tụng chú này 1 biến thì trừ được tội, qua được tai nạn, thành tựu sự nghiệp. Còn nếu ngày nào cũng tụng 108 biến thì sẽ có cảm ứng khiến thấy được thế giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà và núi Bổ Tát La nơi Bồ  tát Quán Thế Âm cư ngụ, khỏi đọa vào đường ác.
Trì niệm: Namo Buddhaya, Namo Dharmaya, Namo Sanghaya. Namo Avalokitesvaraya bodhisattvaya mahasattvaya, maha karunikaya.Tadyatha: Om Chakra, Vartti, Chintamani, Maha Padma, Ru ru, Tista, Jvala Akarsaya, Hum, Phat, Svaha.
Link Download:
+Nilakantha Dharani: MP3 này chính là Chú Đại Bi mà chúng ta thường trì niệm. Thần Chú này công đức bất khả tư nghị, thường ai hay trì niệm sẽ đạt được 15 điều lành và tránh 15 thứ hoạnh tử.
Được 15 điều lành:
1. Sinh ra thường được gặp vua hiền, 2. Thường sinh vào nước an ổn, 3. Thường gặp vận may, 4. Thường gặp được bạn tốt, 5. Sáu căn đầy đủ, 6. Tâm đạo thuần thục, 7.Không phạm giới cấm, 8. Bà con hòa thuận thương yêu, 9. Của cải thức ăn thường được sung túc, 10. Thường được người khác cung kính, giúp đỡ, 11. Có của báu không bị cướp đoạt, 12. Cầu gì đều được toại ý, 13. Long, Thiên, thiện thần thường theo hộ vệ, 14. Được gặp Phật nghe pháp, 15. Nghe Chánh pháp ngộ được nghĩa thâm sâu.
Không bị 15 thứ hoạnh tử:
1. Chết vì đói khát khốn khổ, 2. Chết vì bị gông cùm, giam cầm đánh đập, 3. Chết vì oan gia báo thù, 4. Chết vì chiến trận, 5. Chết vì bị ác thú hổ, lang sói làm hại, 6.Chết vì rắn độc, bò cạp, 7. Chết trôi, chết cháy, 8. Chết vì bị thuốc độc, 9. Chết vì trùng độc làm hại, 10. Chết vì điên loạn mất trí, 11. Chết vì té từ cây cao hoặc rớt xuống vực thẳm, 12. Chết vì người ác trù ếm, 13. Chết vì tà thần, ác quỷ làm hại, 14. Chết vì bệnh nặng bức bách, 15. Chết vì tự tử.
Trì niệm: 
Om namo ratnatrayaya. namah arya avalokitesvaraya bodhisattvaya mahasattvaya mahakarunikaya sarva bandhana chedana karaya. sarva bhava samudram sosana karana. sarva vyadhi prasamana karaya. sarva mrtyu upa-drava viansana karana. sarva bhaye su trana karaya. tasmat namas – krtva idam arya avalokitesvara bhastinam nilakantha pi nama hrdayam avarta isyami sarvartha-sadhanam subham ajeyam sarva bhutanam bhava marga visuddhakam tadyatha, om aloke aloka-mati lokati krante. he hare arya avalokitesvara maha bodhisattva, he boddhisattva, he maha bodhisattva, he virya bodhisttva he mahakarunika smara hradayam. hi hi, hare arya avalokitesvara mahesvara parama maitra-citta mahakarunika. kuru kuru karman sadhaya sadhaya vidyam. ni hi, ni hi varnam kamam-game. vitta-kama vigama. siddha yogesvara. dhuru dhuru viryanti, maha viryanti. dhara dhara dharendresvara. cala cala vimala amala murte arya avalokitesvara jina krsna jata-makutavalam ma pra-lamba maha siddha vidya dhara. vara vara maha vara. bala bala maha bala. cala cala maha cala krsna-varna nigha krsna – paksa nirghatana. he padma-hasta cara cara desa caresvara krsna – sarpa krta yajnopavita ehyehi maha varaha-mukha, tripura-dahanesvaranarayana va rupa vara marga ari. he nilakantha, he mahakara, hala hala visa nir-jita lokasya. raga visa vinasana. dvesa visa vinasana. moha visa vinasana huru huru mala, huru huru hare, maha padmanabha sara sara, sri sri, suru suru, bhu ruc bhu ruc buddhaya buddhaya, boddhaya boddhaya maitri nilakantha ehyehi vama shitha simha-mukha hasa hasa, munca munca mahattahasam ehiyehi pa maha siddha yogesvara bhana bhana vaco sadhaya sadhaya vidyam. smara smaratam bhagavantam lokita vilokitam lokesvaram tathagatam dadahi me drasana kamasya darsanam pra-hia daya mana svaha. siddhaya svaha. maha siddhaya svaha siddha yogesvaraya svaha nilakanthaya svaha varaha-mukhaya svaha maha-dara simha-mukhaya svaha siddha vidyadharaya svaha padma-hastaya svaha krsna-sarpa krta yajno pavitaya svaha maha lakuta daharaya svaha cakra yuddhaya svaha sankha-sabdani bodhanaya svaha vama skandha desa shitha krsna jinaya svaha vyaghra-carma nivasa naya svaha lokesvaraya svaha sarva siddhesvaraya svaha namo bhagavate arya avalokitesvaraya bodhisattvaya maha sattvaya mahakarunikaya. sidhyanthu me mantra-padaya svaha.
Link Download:
+Thần Chú Liên Hoa Sinh (Om Ah Hum Vajra Guru Padma Siddhi Hum): MP3 này là Tâm Chú của Ngài Liên Hoa Sinh Thượng Sư, mang công năng lớn lao. Trì niệm Thần Chú này sẽ giúp thanh tịnh ba nghiệp Thân Khẩu Ý, và kêu cầu ân sủng từ Ngài Liên Hoa Sinh.
Trì Niệm: Om Ah Hum Vajra Guru Padma Siddhi Hum.
Link Download:
+Om Mani Padme Hum: MP3 này chính là câu Thần Chú mà chúng ta thường trì niệm "Án Mani Bát Mê Hồng". Đôi lúc chúng ta giải thích "Om Mani Padme Hum" với những giải thích mang tính bí ẩn, tâm linh, nhưng thật ra "Om Mani Padme Hum" chỉ là Hồng Danh của Đức Quán Thế Âm mà thôi! Nhưng tuy chỉ có sáu chữ, nhưng đây là một Thần Chú tiêu biểu, một Thần Chú mang đầy uy mãnh của Đại Nguyện của Đức Quán Thế Âm. Ai thành tâm trì niệm, tức thời thân tâm được thanh tịnh như gương. Thần Chú đây là gốc rễ của lòng Đại Từ Đại Bi.
Trì niệm: Om Mani Padme Hum
Link Download:
+Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni: MP3 này là bản thân của Ngài Phật Đảnh Tôn Thắng. Hành giả nào thành tâm trì niệm Thần Chú này liền được thoát khỏi khổ, được giải thoát, trừ diệt được tất cả các nghiệp chướng, khiến được thanh tịnh, hay cứu bạt Địa Ngục, Súc Sanh, Diêm Ma Giới, hay giải trừ khổ não cho chúng sanh.
Trì niệm: Namo bhagavate trailokya-prati-viśiṣṭāya buddhāya bhagavate tadyathā Om viśuddhāya viśuddhāya asamasama samanta-avabhāsa spharaṇa-gati-gahana svabhāva-viśuddhe abhiṣiñcatu māṃ sugata vara-vacana-amṛta-abhiṣekair mahā-mantra-padairāhara-āhara-āyus saṃdhāraṇi śodhaya śodhaya gagana viśuddhy-uṣṇīṣa vijaya viśuddhe sāhasra-raśmi saṃcodite sarva-tathāgata-avalokani ṣaṭ-pāramitā paripūraṇi sarva-tathāgata mati-daśa-bhūmi pratiṣṭhite sarva-tathāgata-hṛdaya-adhiṣṭhāna-adhiṣṭhita mahā-mudre vajra-kāya-saṃhatana viśuddhe sarva-āvaraṇa-apāya-durgati pari-viśuddhe pratinivartaya āyuś śuddhe samaya-adhiṣṭhite maṇi maṇi mahā-maṇi tathatā bhūtakoṭi pariśuddhe visphuṭa buddhi śuddhe jaya jaya vijaya vijaya smara smara sarva-buddha-adhiṣṭhita śuddhe vajre vajra-garbhe vajraṃ bhavatu mama śarīraṃ sarva-sattvānām ca kāya pariviśuddhe sarva-gati pariśuddhe sarva-tathāgata siñca me sama-āśvāsayantu sarva-tathāgata sama-āśvāsa-adhiṣṭhite bodhyā bodhyā vibodhyā vibodhyā bodhaya bodhaya vibodhaya vibodhaya samanta-pariśuddhe sarva-tathāgata-hṛdaya-adhiṣṭhāna-adhiṣṭhita mahā-mudre svāhā.
Link Download:
+Prajna Paramita: MP3 này chính là Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh. Hành giả thường hành trì Bát Nhã Tâm Kinh thì sẽ rốt ráo trừ tất cả bệnh khổ, bởi vì Bát Nhã Ba La Mật Đa là Mẹ Của Chư Phật, là Đại Thần Chú có công năng lớn, là Thần Chú cao cả hơn tất cả các Thần Chú khác.
Trì niệm: 
Aryalokiteshvara Bodhisattva Gambhiram Prajna-paramita Caryam Caramano
Vyavalokiti Sma Panca-skanda Asatta Sca Svabhava Sunyam Pasyati Sma
Iha Sariputra, Rupam Sunyam, Sunyata Iva Rupam
Rupa Na Vrtta Sunyata, Sunyataya Na Vrtta Sa-rupam
Yad Rupam Sa-sunyata, Yad Sunyata Sa-rupam
Evam Vva Vedana Samjna Sam-skara Vijnanam
Iha Sariputra Sarva Dharma Sunyata-laksana
Anutpanna Aniruddha Amala A-vimala, Anuna A-paripurna
Tasmat Sariputra Sunyatayam Ma Rupam
Na Vedana, Na Samjna Na Sam-skara, Na Vijnanam
Na Caksu Srotra Ghrana Jihva Kaya Manasa
Na Rupam Sabda Ghandha Rasa Sparstavya Dharma
Na Caksur-dhatu, Yavat Na Manovijnanam-dhatu
Na Avidya Na Avidya Ksayo
Yavat Na Jara-maranam Na Jara-marana Ksayo
Na Duhkha, Samudaya, Mirodha, Marga
Na Jnana, Na Prapti, Na Abhi-samaya
Tasmat Na Prapti Tva Bodhisattvanam
Prajna-paramitam A-sritya Vi-haratya Citta Avarana
Citta Avarana Na Sthitva Na Trasto
Vi-paryasa Ati-kranta Nistha Nirvanam
Try-adhva Vyavasthita Sarva Buddha Prajna-paramita
A-sritya Annutara-samyak-sambodhim, Abhi-sambuddha
Tasmat Jnatavyam Prajna-paramita Maha-mantra
Maha-vidya Mantra, Anuttara Mantra Asama-samati Mantra
Sarva Duhkha Pra-samana Satyam Amithyatva
Prajna-paramita Mukha Mantra Tadyatha
Gate Gate, Para-gate Para-samgate Bodhi Svaha.
Link Download:
+Quán Âm Linh Cảm Chân Ngôn: MP3 này là một trong mười bài Thần Chú trong Thập Chú. 
Xuất Xứ: Kinh Trang Nghiêm Bảo Vương
Phật bảo Trừ Cái Chướng Bồ Tát rằng: Sáu chữ Ðại Minh Ðà La Ni này khó được gặp gỡ, nếu có người nào được sáu chữ Ðại Minh Vương đây, thì người đó tham, sân, si, độc không thể nhiễm ô. Nếu đeo mang trì giữ nơi thân, người đó cũng không nhiễm trước bịnh ba độc. Chơn ngôn này vô lượng tương ưng, với các Như Lai mà còn khó biết, huống gì Bồ Tát làm thế nào biết được. Ðây là chỗ bổn tâm vi diệu của Quán Tự Tại Bồ Tát.
Trì niệm: Om Mani Padme Hum, Maha Jnana, Ketu Savada, Ketu Sana,
Vidhariya, Sarvartha,  Parisadhaya, Napurna, Napari, Uttapana, Namah Loke'svaraya, Svaha.
Link Download:
+Thánh Vô Lượng Thọ Quang Minh Vương Đà Ra Ni: MP3 này là một trong mười bài Thần Chú trong Thập Chú.
Nghĩa:
Quy mạng lễ Đức Thế Tôn VÔ LƯỢNG THỌ TRÍ QUYẾT ĐỊNH QUANG MINH VƯƠNG Như Lai Ứng Cúng Chính Đẳng Chính Giác.
OM, tất cả hoạt động Tâm Ý đều là Pháp Tính cực thanh tịnh. Thanh tịnh như Tự Tính thắng thượng của Hư Không. Hãy phát khởi Thắng Nguyện rộng lớn để mau chóng đạt được sự an lạc thanh tịnh của Đại Niết Bàn. 

Xuất xứ: Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Như Lai Đà Ra Ni kinh.
Trì Niệm: Om Namo Bhagavate, Aparamita,  Ajurjnana, Suvine, Scita Teja Rajaya, Tathagataya, Arhate, Samyaksam Buddhaya, 
Om Sarva Samskara Pari'Suddha, Dharmate, Gagana, Samudgate Svabhava, Visuddhe, Maha Naya, Parivere, Svaha.
Link Download:
+Thất Phật Diệt Tội Chân Ngôn: MP3 này là một trong mười bài Thần Chú trong Thập Chú.
Nghĩa:
Mọi đường lối và tính chất của sự thấp hèn đều tuân theo sự hấp thụ điều cao quý và tính chất cao quý mà vận chuyển thành ánh sáng rực rỡ vinh quang. Đây là con đường rộng lớn hay chận đứng mọi tai họa để viên mãn phước trí.

Xuất xứ : Đại Phương Đẳng Đà Ra Ni Kinh
Đây là Thần Chú của bảy Đức Phật đã nói từ những đời quá khứ. Thần Chú này hay diệt được các tội Tứ Trọng, Ngũ Nghịch và được vô lượng phước, nếu hành giả thành tâm trì tụng.
Trì niệm: Repa Repate, Kuha Kuhate, Tranite, Nigala Rite, Vimarite, Maha Gate, Santimkrite, Svaha.  
Link Download:
+Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú: MP3 này là một trong mười bài Thần Chú trong Thập Chú.
Nghĩa:
Hỡi ánh lửa rực rỡ của Như Lai Vô Kiến Đỉnh Tướng đã thiêu cháy mọi năng chấp, sở chấp hãy tỏa sáng rực rỡ khiến cho con được an trú trong sự gia trì này nhằm phá tan sự trì độn chậm chạp của Nội Chướng và Ngoại Chướng. Đồng thời khiến cho con dứt trừ được mọi tai nạn, thành tựu sự an vui tốt lành.

Xuất Xứ: Kinh Xí Thạnh Quang Đại Oai Đức Tiêu Tai Cát Tường Đà La Ni. Thần Chú tiêu trừ các tai nạn, thành tựu việc cát tường. Một trong 4 Đà La Ni thông dụng trong Thiền Lâm, cũng là Pháp Tức Tai trong Mật Giáo. Thần Chú này xuất phát từ Kinh Xí Thạnh Quang Đại Oai Đức Tiêu Tai Cát Tường Đà La Ni và Kinh Đại Oai Đức Kim Luân Phật Xí Thạnh Quang Như Lai Tiêu Diệt Nhất Thiết Tai Nạn Đà La Ni.
Trì niệm: Namah Samanta, Buddhanam, Apratihatasa, Sananam, Tadyatha: 
Om Kha Kha, Khahi, Khahi, Hum Hum, Jvala Jvala, Prajvala Prajvala, Tista Tista, Sitiri Sitiri, Sphati Sphati, Shantika, Sriye Svaha.
Link Download:
+Vairocana Buddha Mantra: MP3 này còn gọi là Đại Nhật Như Lai Thần Chú, mang công năng vi diệu bất khả tư nghị.
Câu chú của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na có khả năng giúp khiến các Hương Linh, Súc Sanh, Ngã Quỷ, Chúng Sanh trong Địa Ngục để giúp các chúng sanh đó được thoát khỏi cảnh khổ và được vãn sanh trong các cảnh giới lành.

Khi trì tụng thì hành giả phải phát tâm Từ Bi nhất tâm cầu nguyện cho các chúng sanh đó được thoát khỏi kiếp khổ để được tái sanh trong các cảnh giới lành.

1)Hành giả phải tụng Thần Chú ít nhất là 7 lần vào trong thức ăn, nước uống để cúng thí cho các loài Súc Sanh và Ngạ Quỷ.

2)Hành giả phải tụng Thần Chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào cát, đất v...v... để rải trên hòm hay mồ mả của người chết.

3)Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào những chỗ có nước như là ao hồ để giúp đỡ cho loài Chúng Sanh ở trong nước khi chết rồi được hóa kiếp và tái sanh trong các cảnh giới lành.
Trì niệm: Om Namo Bhagavate Sarva Durgate Pari Sudhana Rajaya Tathagataya Arhate Samyaksam Buddhaya Tadyatha Om Shudhane Shudhane Sarva Papam Vishodhani Shuddhe Vishuddhe Sarva Karma Avarani Vishuddhe Svaha.
Link Download:
+Vajrasattva Mantra: MP3 này chính là Thần Chú Bách Tự Kim Cang Tát Đỏa, mang công năng vi diệu bất khả tư nghị. Hành giả thường xuyên thành tâm trì niệm sẽ được Ngài Kim Cang Tát Đỏa thanh tịnh thân tâm, thanh tịnh nghiệp chướng, hóa giải oan gia trái chủ nhiều đời nhiều kiếp.
Trì niệm: Om Vajra Sattva Samaya Manu palaya Vajra Sattvenopathistha Dridhome bhava Sutosyomebhava Supossyamebhava Anuraktomebhava Sarva Siddhim Meprayassca Sarva Karmesu came Cittam Siyam Kuru Hum Ha ha ha ha Ho Bhagavam Sarva Tathagata Vajra Ma Me Munca Vajra bhava Maha Samaya Sattva. Ah
Link Download:
+Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú: MP3 này là một trong mười bài Thần Chú trong Thập Chú.
Nghĩa:
Quy mạng A Di Đà Như Lai. Chân Ngôn nói rằng: Hiện lên Cam Lồ, phát sinh Cam Lồ, dũng mãnh Cam Lồ, đạt đến Cam Lồ dũng mãnh, rải khắp hư không, thành tựu cát tường.

Xuất xứ: Kinh niệm Phật Ba La Mật 
Thần Chú này mang công năng bất khả tư nghị. Hành giả chuyên tụng Thần Chú này được Phật A Di Đà thường ngự trên đỉnh đầu ủng hộ, hiện đời an ổn, khi mạng chung được tuỳ ý vãng sanh.
Trì niệm: Namo Amitabhaya Tathagataya Tadyatha: Amritod Bhava Amrita  Samhava Amrita Vikrante Amrita Vikrante Gamini Gagana Kirtikare Svaha.
+White Tara Mantra: MP3 này chính là Thần Chú của Ngài Bạch Độ Mẫu, hay còn được gọi là Đức Tara Trắng. Thần Chú này mang công năng bất khả tư nghị. Hành giả thường trì niệm, thì thường được Đức Bạch Độ Mẫu ngự trên đỉnh đầu, ban cho sức khỏe, sự sung túc và được trường thọ.
Trì niệm: Om Tare Tuttare Ture. Mama Ayu Punye Jnana Pustim Kuru, Svaha.
Link Download:
+Đại Cát Tường Thiên Nữ Thần Chú: MP3 này là một trong mười bài Thần Chú trong Thập Chú.
Nghĩa:
Quy y Phật, Quy Y Pháp, Quy y Tăng.
Quy y Cát Tường Đại Thiên. Chú nói như vậy:
Hỡi Đấng quyền năng hay ban bố sự viên mãn thù thắng !
Đấng chủ tể Đại Tác Nghiệp hay nhìn thấy khắp nẻo rộng lớn !
Hãy khéo léo làm cho tất cả đều được đầy đủ.
Hãy khiến cho khắp tất cả mọi nơi đều được sự viên mãn thù thắng tối thượng.
Hãy thể hiện lòng Đại Từ làm cho Lý Pháp Tính tỏa sáng màu nhiệm rộng lớn khiến cho con và chúng sinh được thích ứng với sự lợi ích chân chính.
Mừng thay Đấng biểu hiện của lòng yêu thương. Đấng chân chính gìn giữ sự lợi ích. Hãy giúp cho con và chúng sinh đều gìn giữ được khắp mọi tài sản lợi ích.

Xuất xứ : Kinh Kim Quang Minh
Trong kinh dạy: Những hành giả trì tụng Thần Chú này, phàm muốn cần dùng các thức, hoặc điều chi thì đều được đầy đủ.
Trì niệm:
Namo Buddhaya, Namo Dharmaya, Namo Sanghaya.
Namo Sri Maha Devaya, Tadyatha, Paripurna,  Cale, Samanta Darsani, Maha Vihara Gate, Samanta, Vidhana Gate, Maha Karya Pati Suparipure, Savartha, Samanta, Suprati, Purna, Ayana, Dharmate, Maha Vibhasite, Maha Maitre Upasamhite, He! Tithu, Samgrhite Samanta Artha Anupalani.
Link Download:
+Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú: MP3 này tên đầy đủ là Bạt Nhứt Thế Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Ðà La Ni, do đích thân ngài Phổ Hiền Bồ Tát vì chúng sinh nghiệp ác sâu dày, nên đối trước Đức Thế Tôn tuyên thuyết Thần Chú Vãng Sanh Tịnh Độ. Người niệm Phật phải giữ giới, ăn chay, thân khẩu ý đều phải thanh khiết. Ngày đêm sáu thời, mỗi thời tụng hai mươi mốt biến. Như vậy, diệt được các tội: Tứ trọng, Ngũ nghịch, Thập ác, và hủy báng Chánh pháp. Thường được đức Phật A Di Đà hiện trên đỉnh đầu. Hiện đời an ổn, phước lạc. Hơi thở cuối cùng, được tùy nguyện mà vãng sanh Cực lạc. Hoặc tụng đến ba chục muôn biến, liền thấy Phật ngay trước mặt mình.

Xuất xứ: Kinh Niệm Phật Ba La Mật.
Trong Kinh dạy: Với Thần Chú nầy phải đọc 21 biến, liền diệt được các tội tứ trọng, ngũ nghịch, thập ác và hủy báng Chánh Pháp. Nếu người thường tụng Chú đây, được Đức Phật A Di Ðà thường ở trên đỉnh đầu, để ủng hộ cho, chẳng cho kẻ thù tiện bề phá khuấy, hiện đời vẫn đặng yên ổn, đến hơi thở cuối cùng, được tùy ý vãng sanh. Hoặc tụng đến đủ số 20 vạn biến, liền cảm đặng tâm Bồ Đề nảy mộng. Hoặc tụng đến 3 chục muôn biến, liền trước mặt tự thấy Phật, hiện đời an lạc, thuận lợi, được sự nhiếp thọ của vô lượng Như Lai. Tụng một muôn biến, tâm Bồ đề hiển hiện nơi thân không quên mất. Thấy đức Phật phóng quang tụ trên đỉnh đầu. Người trì chú lần lần thể nhập tịnh tâm tròn sáng mát mẻ, tiêu tan tất cả phiền não. Khi lâm chung, hành giả niệm Phật liền thấy Phật A Di Đà cùng vô lượng muôn ức Bồ Tát vây quanh, an ủi, tiếp dẫn. Người trì chú tức khắc được sanh về Thượng phẩm ở Cực lạc.
Trì niệm: 
NAMO AMITÀBHÀYA TATHÀGATÀYA TADYATHÀ AMRTODBHAVE AMRTA SAMBHAVE AMRTA VIKRÀNTE AMRTA VIKRÀNTA GAMINI GAGANA KÌRTTI KARE SVÀHÀ.
Link download:
+Địa Tạng Vương Thần Chú: MP3 này là Diên Mệnh Địa Tạng Vương Thần Chú. Trong kinh "

Phật thuyết Kinh Diên Mệnh Địa Tạng  Bồ Tát" có dạy rằng: "...Bồ-tát ấy ban cho mười phúc lành : một là đàn bà dễ sanh, hai là thân căn đầy đủ, ba là trừ hết thảy bệnh, bốn là được sống lâu, năm là hiểu biết sáng suốt, sáu là của cải dư dật, bảy là mọi người kính yêu, tám là thóc lúa được mùa, chín là Thần-linh gia hộ, mười là chứng thành Phật quả. 

Lại diệt trừ được 8 điều lo sợ : một là mưa gió phải thời, hai là khỏi nạn ngoại xâm, ba là trong nước không loạn, bốn là không nhật-nguyệt thực, năm là sao xấu không hiện, sáu là quỹ thần không phá, bảy là không hề đói khát, tám là dân không bệnh tật..."
Xuất xứ: Kinh Diên Mệnh Địa Tạng  Bồ Tát.
Trì niệm: 
OM HA HA HA VISMAYE SVAHA.
Link download:


-----------------------------------------------------------------

Thần Chú là bản thân của Chư Phật, Chư Bồ Tát, Chư Kim Cang, Chư Thánh Chúng. Vì vậy, công năng của Thần Chú là bất khả tư nghị, không thể diễn nói bằng lời được. Nếu chúng ta thành tâm cung kính phụng trì, thì sẽ đạt được sự thanh thản ngoài thân và trong tâm, đạt được sự yên bình, và cảm giác được an toàn, đó là sự lợi ích thấy được bằng mắt thường, chưa nói bàn đến mặt tâm linh nữa!

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2012

Khổng Tước Minh Vương


Khổng Tước Minh Vương (tên Phạn là Mahà-Mayurà-Vidya-Ràjnì : Đại Khổng Tước Minh Phi). Hán dịch là Ma Ha Ma Du Lợi La Diêm, Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương…Tương truyền Tôn này là Đẳng Lưu Hóa Thân của Tỳ Lô Giá Na Phật hoặc Thích Ca Mâu Ni Phật có Mật Hiệu là Phật Mẫu Kim Cương, Hộ Thế Kim Cương.

Trong Pháp tu của Mật Giáo, dùng Khổng Tước Minh Vương làm Bản Tôn để tu thì xưng là Khổng Tước Minh Vương Kinh Pháp, lại xưng là Khổng Tước Kinh Pháp, là một trong bốn Đại Pháp của Mật Giáo. Nhân duyên khởi đầu của Khổng Tước Minh Vương được căn cứ vào sự ghi chép của Kinh Khổng Tước Minh Vương là: Khi Đức Phật còn tại thế, có một vị Tỳ Khưu bị rắn độc cắn, đau nhức khó chịu nổi. Sau khi Tôn Giả A Nan (Ananda) bẩm báo với Đức Thích Tôn thời Đức Phật đã tuyên nói một loại Đà La Ni Chân Ngôn có thể khử trừ: Ma Mỵ, độc hại, bệnh tật ác. Đà La Ni này chính là Khổng Tước Minh Vương Chú. Đó là sự khởi đầu cho người đời biết về Khổng Tước Minh Vương với Đà La Ni ấy.

Do ý nghĩa hiển lộ trong hình tượng của Khổng Tước Tôn nên có thể biết Tôn này có đủ bốn loại Diệu Đức của Kính Ái, Điều Phục, Tăng Ích với Tức Tai; hay viên mãn tất cả nguyện vọng. Còn dùng con công do Ngài cỡi hay ăn nuốt các trùng độc, tượng trưng cho Tôn này hay ăn nuốt hết tất cả năm Độc phiền não của chúng sinh. Trong Hiện Đồ Thai Tạng Giới Mạn Trà La của Mật Giáo, đem Tôn này an trí ở Tô Tất Địa Viện với hình tượng hiện bày màu thịt, có hai cánh tay, tay bên phải cầm lông đuôi chim Công, tay bên trái cầm hoa sen, ngồi  trên hoa sen đỏ. Tam Muội Gia Hình là lông đuôi chim công. Hình tượng được lưu truyền ở Tây Tạng thì có ba mặt tám cánh tay, ngồi trên tòa hoa sen, không có ngồi trên con Công. Pháp Môn của Khổng Tước Minh Vương đối với việc lợi ích Thế Gian như: hộ quốc (bảo vệ đất nước), Tức Tai (đứt trừ tai nạn), cầu mưa, trừ bệnh, sống lâu, sinh sản an ổn… đều có hiệu nghiệm. Đương nhiên việc rất trọng yếu vẫn là dùng Tôn này làm nơi nương tựa để tu Pháp Xuất Thế Gian. Khử trừ các loại phiền não độc hại của nhóm Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi trong Tâm của chúng ta khiến chúng ta hay viên mãn Bồ Đề của Trí Tuệ, Từ Bi mau chóng thành Phật Quả. 

------------------------------------------------------

Đức Đặc Biệt Tu tập pháp Khổng Tước Minh Vương, có thể dẹp yên tai nạn, trừ khử các độc, được hàng Trời rồng thủ hộ, trị liệu các bệnh, miễn trừ sự chết yểu không đúng thời, và ngày đêm được an lành, tăng thọ sống lâu. Khổng Tước Minh Vương ( Tên Phạn là: Mahà-Mayùrà-Vidya-Ràjni ), dịch âm tên Phạn là Ma Ha Ma Du Lợi La Đô, lại có tên là Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương….
Gọi đơn giản là Khổng Tước Minh Vương. Khổng Tước Minh Vương này nói chung không như Minh Vương phần nhiều hiện tướng phẫn nộ, mà là hình tượng trang nghiêm, hiền lành dễ thân thiện, và ngồi trên con công đẹp đẽ. Hoặc có thuyết nói là nơi hóa hiện của Thích Ca Mâu Ni Phật.  
 
     Căn cứ trong Kinh Điển ghi chép, Chú của Khổng Tước Minh Vương do chư Phật cùng nói, Hành Giả nên thường thọ trì, dùng cầu xin cứu hộ. Lúc tu Pháp có thể tự xưng tên mình, rồi hướng về Khổng Tước Minh Vương cầu nguyện xin nhiếp thọ trừ các sợ hãi, như là các nạn khổ bởi dao, gậy, gông cùm, xiềng xích, đều được giải thoát, thường gặp lợi ích, chẳng thấy buồn phiền, thọ mạng trăm tuổi. Ngoài ra, liên quan trong Kinh Điển còn ghi chép tu Pháp Khổng Tước Minh Vương ngoài việc ngưng dứt tai nạn, trừ các độc hại ra, còn có thể được các hàng Trời, Rồng, Dược Xoa…. thủ hộ, trị liệu các bệnh, miễn trừ sự chết yểu không đúng thời, ngày đêm được an lành, tăng thọ sống lâu. Căn cứ trong “ Khổng Tước Minh Vương Kinh “ ghi chép, lúc Đức Phật tại thế, có 1 vị Tỳ Kheo tên là Sa Để, gặp rắn độc cắn phải, chỉ trong chốc lát độc khí chạy khắp thân, mê man té xuống đất, miệng sùi bọt, hai mắt trợn lên. A Nan nhìn thấy tình trạng như vậy, liền vội vàng thỉnh cầu Thế Tôn Đại Bi cứu hộ, thế là Đức Thế Tôn liền dạy Ngài niệm tụng Đà La Ni hay khử trừ Quỷ Mỵ, độc hại, bệnh ác, để bảo hộ thọ mạng được lâu dài, đó là Khổng Tước Minh Vương Chú. Ngoài ra, trong Kinh Điển Phật Giáo cũng kể lại câu chuyện về 1 con Khổng Tước Vương nhân vì nhớ tụng Khổng Tước Minh Vương Chú mà được hộ mạng. Căn cứ trong Kinh nói, rất lâu xa về trước, ở núi Tuyết có 1 con Kim Diệu Khổng Tước Vương, thường ngày trì tụng Khổng Tước Minh Vương Chú rất chuyên cần, đo đó thường được an ổn. Có 1 lần vì ham thích vui chơi cùng với nhiều nhóm Khổng Tước Nữ (Chim Công mái) đến vùng núi xa vui đùa, mà nhất thời quên tụng trì Chú này, vì thế gặp phải người đi săn bắt. May mà lúc nó đang bị trói, liền khôi phục chánh niệm, trì tụng Chú này, cuối cùng tháo gỡ được dây trói buộc, được tự do. Hình tượng của Khổng Tước Minh Vương, trong “  Đại Khổng Tước Minh Vương Họa Tượng Đàn Nghi Quỹ “ ghi chép rằng: Đầu hướng về phương đông, màu trắng, mặc áo lụa trắng mỏng. Đầu có đội mão, anh lạc, khuyên tai, vòng xuyến ở cánh tay mỗi thứ rất trang nghiêm, ngồi trên Khổng Tước Vương màu vàng ròng, Ngồi Kiết Già trên hoa sen trắng hoặc trên hoa màu xanh lục, hiện tướng Từ Bi. Có 4 cánh tay, bên phải: Tay thứ 1 cầm hoa sen hé nở, tay thứ 2 cầm Câu Duyên Quả ; bên trái:
Tay thứ 1 để ngang trái tim lòng bàn tay cầm quả Cát Tường, tay thứ 2 cầm 2, hoặc 5 sợi lông đuôi chim Công.

Trong 4 loại vật cầm giữ  thì hoa sen đại biểu cho Kính Ái, Câu Duyên Quả đại biểu cho Điều Phục, Quả Cát Tường đại biểu cho Tăng Ích, lông đuôi chim Công biểu thị cho Tức Tai. Tòa hoa sen trắng biểu thị cho Nhiếp Thủ Bổn Thệ của Từ Bi, tòa hoa sen xanh đại biểu cho ý nghĩa của sự Giáng Phục. Căn cứ vào sự tương truyền của Mật Giáo, Minh Vương này là Thân Đẳng Lưu của Tỳ Lô Giá Na Như Lai, có đủ 2 đức là Nhiếp Thủ và Chiết Phục, cho nên ở trên kể có 2 tòa sen. Trong Hiện Đồ Thai Tạng Giới Mạn Trà La của Mật Giáo, đem Tôn này an trí ở vị trí thứ  6 ở đầu phía nam trong Tô Tất Địa Viện. Thân hiện bày màu thịt, có 2 cánh tay, tay bên phải cầm lông đuôi chim Công, tay bên trái cầm hoa sen, ngồi trên hoa sen đỏ. Mật hiệu là Phật Mẫu Kim Cang hoặc Hộ Thế Kim Cang. Hình tượng được lưu truyền ở Tây Tạng thì có 3 mặt 8 cánh tay, ngồi trên tòa hoa sen, không có ngồi trên con Công.

Sự việc liên quan đến Khổng Tước Minh Vương dùng con Công để ngồi, trong “Bạch Bảo Khẩu Sao “ nói, chim Công vì nuôi thân nên ăn tất cả trùng độc, Khổng Tước Minh Vương giống như Đức Phật A Di Đà hay tiêu diệt tất cả 5 độc của chúng sinh tạo ác, vì thọ mạng của tự tính thanh tịnh, cho nên dùng chim Công này làm tòa. Lại nói, chim Công này ăn nuốt tất cả trùng độc…. để nuôi mạng, tức là tượng trưng cho Minh Vương chặt đứt hết tất cả phiền não ác độc, sống lâu chẳng bị hoại thọ mạng. Mà đuôi Công lại hay phủi vô lượng tai ách, tăng phước và các điều tốt lành. Trong Đồng Sao lại nói, chữ Chủng Tử là Vam, chữ Chủng Tử là Thủy Đại, chúng hữu tình dùng nước để làm tươi nhuận tính mạng, tính của nước hay làm cho sinh trưởng các chỗ khô cạn, nước như vậy hay cầm giữ vật, nay Khổng Tước Minh Vương làm lợi ích cho chúng sinh, ví như nước đó cầm giữ vạn vật, cho nên dùng Thuỷ Đại làm chữ Chủng Tử. Trong Mật Giáo dùng pháp tu của Khổng Tước Minh Vương làm Bổn Tôn gọi là Khổng Tước Kinh Pháp hoặc Khổng Tước Minh Vương Kinh Pháp. Tác dụng chủ yếu của pháp này là Tức Tai, cầu mưa hoặc dừng mưa, khi sinh sản được an ổn…. Nếu Hành Giả siêng năng tu trì, cũng có thể trừ các bệnh khó chữa, nhân đó mà hộ mạng sống lâu. 
  

Khổng Tước Minh Vương Ấn: 

Hai tay tác Nội Phộc, dựng thẳng hai ngón cái, hai ngón út cùng trụ nhau. 
Chân Ngôn là: 

Om Mayurà Krànte Svàha



Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2012

Uế Tích Kim Cang




Đức Đặc Biệt Uế Tích Kim Cang có Bổn Thệ là ăn hết các thứ Bất Tịnh hay thiêu đốt Tâm phân biệt dơ sạch, sinh diệt, chuyển Bất Tịnh thành Thanh Tịnh, có Thần Biến Diên Mạng Pháp, có thể khử bệnh tránh tai ương, hộ mạng sống lâu Ô Xu Sa Ma Minh Vương (Tên Phạn là: Ucchusma, tên Tây Tạng là: Hchol-ba), lại tên là: Ô Mục Sa Ma Minh Vương, Ô Xu Sáp Ma Minh Vương, Ô Tố Sa Ma Minh Vương; cũng gọi là Uế Tích Kim Cang, Hỏa Đầu Kim Cang, Bất Tịnh Kim Cang, Thụ Xúc Kim Cang, Bất Hoại Kim Cang, Trừ Uế Phẫn Nộ Tôn…. Là 1 trong các Tôn Phẫn Nộ được thờ cúng nơi Thiền Tông và Mật Giáo, là Giáo Lệnh Luân Thân của Yết Ma Bộ ở phương bắc. 

Căn cứ trong quyển 36 “ Tuệ Lâm Âm Nghĩa “ ghi chép rằng: Bổn nguyện của Minh Vương này là ăn hết tất cả vật Bất Tịnh, có đủ Đại Bi Thâm Tịnh (trong sạch thâm sâu), không tránh tiếp xúc với vật ô uế, vì cứu hộ chúng sinh nên dùng ánh sáng Đại Uy dạng như lửa mạnh, thiêu trừ phiền não vọng kiến, phân biệt Tâm sinh diệt dơ sạch. Do có đầy đủ Đức chuyển Bất Tịnh thành Thanh Tịnh, cho nên thường đặt ở nơi Bất Tịnh để cung phụng. Trong 2 Tông, Thiền Tông và Mật Tông của Trung Quốc, Tôn này nhận được sự tôn sùng rất lớn. 

-----------------------------------------------

Trong “ Để Lí Tam Muội Gia Kinh “ có 1 tên là Thụ Xúc Kim Cang, tức là Bất Tịnh Kim Cang. Trong quyển 9 “ Đà La Ni Tập Kinh “ thì gọi là Bất Tịnh Khiết Kim Cang Trong “ Nhiếp Vô Ngại Kinh “ gọi là Uế Tích Kim Cang.trong “ Cù Hê Kinh “, “ Tô Bà Hô Kinh “…. có tên gọi là Uế Tích Kim Cang, Bất Hoại Kim Cang, Hỏa Đầu Kim Cang…. Tôn này cũng có tên Phạn là: Ma Hạ Ma La (Mahàbala) dịch là Đại Lực. Đại Lực là chỉ Tôn này có đủ sức Đại Từ, giống như dùng lửa rực thiêu trừ nghiệp sinh tử uế ác của chúng sinh, cho nên tên là Đại Lực. Có thể biết Uế Tích Kim Cang có đủ Đức màu nhiệm chuyển Bất Tịnh Uế Ác thành Thanh Tịnh, dùng Thể Tính Pháp Giới của Thanh Tịnh rất sâu có đầy đủ Uy Quang của Đại Bi, dùng Đại Từ Đại Lực, sinh khởi Tịnh Hỏa rực cháy trong Pháp Giới thiêu trừ nhóm nghiệp sinh tử của chúng sinh, khiến Pháp Giới thường hiện Thanh Tịnh, chúng sinh xa lìa phân biệt Tịnh Nhiễm, tiến thẳng đến viên mãn thành Phật. Là Đại Thủ Hộ sự nghiệp Tâm Bồ Đề của tất cả chúng sinh. 


Dùng Pháp tu của Minh Vương này làm Bổn Tôn gọi là Ô Mục Sa Ma Pháp, thường dùng để khẩn cầu sinh sản được bình an hoặc khử trừ Bất Tịnh lúc sinh sản, hoặc là khử trừ bệnh tật, xua đuổi rắn độc, Quỷ Ác…. cũng có thể tu Pháp này. Phàm trì tụng Thần Chú Minh Vương này, có thể được đại công đức, không chỉ có thể nhận được đại lợi ích khử bệnh, kính yêu, tránh nạn, thêm phước, giáng phục oán địch…. Lại có thể phòng ngự các chướng ngại của Khô Mộc Tinh, Quỷ Ác, rắn độc…. Uế Tích Kim Cang thị hiện thân hình rất là uy mãnh phẫn nộ, trong Mật Giáo là Giáo Lệnh Luân Thân được hóa hiện bởi Yết Ma Bộ ở phương bắc, thân phẫn nộ, viên mãn sự nghiệp rộng lớn của Chư Phật. Trong Nhân Duyên của Bổn Địa, trong các Kinh Luận thì Tôn này được coi là thị hiện của Thích Ca Mâu Ni Phật, Bất Không Thành Tựu Phật, Bất Động Minh Vương, Phổ Hiền Bồ Tát cho đến Kim Cang Thủ Bồ Tát, có các loại thuyết pháp truyền thừa khác nhau. Nhân đây có người cho rằng Tôn này là đồng thể với Kim Cang Dạ Xoa Minh Vương ( Tức là Giáo Lệnh Luân Thân của Bất Không Thành Tựu Phật) trong 5 Đại Minh Vương. Trong “ Để Lí Tam Muội Gia Kinh “ với trong quyển 9 “ Đại Nhật Kinh Sớ “ lại nói là Uế Tích Kim Cang là nơi hóa hiện của Bất Động Minh Vương. Trong “ Để Lí Tam Muội Gia Bất Động Tôn Thánh GiảNiệm Tụng Bí Mật Pháp “nói rằng: “ Lại tác niệm này, người Trì Minh ấy sợ tất cả uế ác, nay ta hóa ra tất cả vật ô uế, quấn quanh 4 mặt mà trụ ở trong đó, nơi ấy đang thi hành Minh Thuật làm sao mà vào được? !.. Lúc Vô Động Minh Vương vâng theo giáo mạng của Đức Phật triệu vời vị Trời ấy, thấy làm sự việc như vậy, tức hóa ra Thụ Xúc Kim Cang (Tức là Bất Tịnh Kim Cang), khiến vị đó bị bắt. Bấy giờ, Bất Tịnh Kim Cang trong chốc lát đều ăn hết các uế vật không còn dư xót, liền nắm tay vị Trời kia đi đến chỗ của Đức Phật “. 



Y theo “ Bí Tạng Ký “ ghi chép rằng: Kim Cang Dạ Xoa là thân phẫn nộ của Bất Không Thành Tựu Phật, Tự Tính Luân Thân tức là Kim Cang Nha Bồ Tát, là thân tịch tĩnh. Nhưng Uế Tích Kim Cang là thân phẫn nộ của Bất Không Thành Tựu Phật, Tự Tính Luân Thân là Kim Cang Nghiệp Bồ Tát. Trong 5 tượng Đại Tôn do Trí Chứng thỉnh về,không có Kim Cang Dạ Xoa, mà dùng Ô Sô Sáp ma thay thế. Do có thể biết điều này nên Kim Cang Dạ Xoa và Uế Tích Kim Cang có thể coi là đồng thể. 

Nhưng tên gọi của Hỏa Đầu Kim Cang trong Tôn này có nguồn gốc trong quyển 5 “ Lăng Nghiêm Kinh “ ghi chép rằng: Ô Sô Sáp Ma đến trước Đức Như Lai, chấp tay lại đỉnh lễ hai chân Phật, mà bạch rằng: “ Con thường nhớ kiếp lâu xa về trước, tính nhiều ham muốn, có Đức Phật ra đời, tên là Không Vương, nói người nào đa dâm tụ thành lửa mạnh, dạy con Quán khắp trăm xương trong người, tứ chi, các khí lạnh ấm. Do Thần Quang lắng đọng bên trong, hóa Tâm Đa Dâm thành Lửa Trí Tuệ, từ đó Chư Phật đều hô triệu tên con là Hỏa Đầu. Con dùng sức Hỏa Quang Tam Muội, cho nên thành A la Hán, Tâm phát đại nguyện. Chư Phật Thành Đạo, con là Lực Sĩ thân cận, giáng phục ma oán. Đức Phật hỏi Pháp Viên Thông, con dùng Pháp Quán các hơi ấm nơi thân Tâm đều lưu thông không trở ngại, các Lậu đã trừ bỏ, sinh Đại Bảo Diệm (Ngọn lửa báu to lớn), lên bậc Vô Thượng Giác, đây là đệ nhất”. Nghĩa là dùng Lửa Trí thiêu trừ sự Bất Tịnh, thành tựu Bồ Đề, cho nên tên là Hỏa Đầu Kim Cang.Trong “ Đại Uy Nộ Ô Sô Sáp Ma Nghi Quỹ Kinh “ lại nói rằng: “ Phổ Hiền tức là Trì Kim Cang được thọ chức từ Chư Phật, dùng điều phục việc khó điều phục nên hiện ra thể Minh Vương này “. Cho nên từ Kinh này có thể biết, Uế Tích Kim Cang lại là nơi hóa hiện của Phổ Hiền Bồ Tát. Căn cứ trong “ Nhiếp Vô Ngại Kinh “ ghi chép, Uế Tích Kim Cang cũng là nơi hóa hiện của Bất Không Thành Tựu Phật; ngoài ra cũng có nói là đồng thể với Kim Cang Dạ Xoa Minh Vương.

Chuyên mục: Lời bình của tác giả...

Phật Pháp vô cùng thâm sâu, màu nhiệm, và hạng phàm phu không thể nào thấu hiểu triệt để chân lý thậm thâm ấy được. Nhưng vì khát ngưỡng được đến với Chánh Pháp, mà hôm nay chúng con như tìm lại được lối về giữa bóng đêm mịt mờ, chúng con nhớ lại những lời dạy của Đức Thế Tôn, thực hành những Pháp Môn vi diệu ấy, ngưỡng mong có một ngày được tìm đến quả Bồ Đề....




-----------------------------------------------------


Kính thưa các bạn, Đạo Phật là một trong rất nhiều tôn giáo trên thế giới. Các tôn giáo nói chung, đều mang một màu sắc riêng biệt. Có đạo thì lấy hình những vị thần, lấy đó làm thước đo cho con người, làm tán cây che chở cho con người. Lại có đạo lấy những lời dạy từ kinh nghiệm của những người sáng lập, giáo huấn lại cho các môn đồ. Chung quy cũng chỉ muốn tốt cho con người, làm lành tránh ác, răn đe, thanh trừ tội ác của con người... Nhưng các tôn giáo khác vấp phải một quan điểm sai sót, đó là "Thần".

"Thần" là một hình tượng chung chung, không được chứng thực, như họ mang đầy sự vị tha, bác ái, trong sáng, và chính họ là tấm gương cho chính môn đồ của họ. Nhưng vô tình, môn đồ của họ lại sa vào một sự lạc lối khác, đó là mê tín. Mê tín đó là một thói xấu. Người mê tín tất nhiên cũng có cái tốt đó là họ sẽ tin vào một sự trừng phạt nào đó dành cho mình khi làm điều xấu, điều đó khiến điều xấu sẽ giảm đi, nhưng mặt khác nó vô tình đưa người mê tín đến một việc xấu khác, đó là sự tha thứ của vị Thần. Giả dụ như có một kẻ  mê tín nào đó, tin vào sự tha thứ tội lỗi của Thần. Hắn liên tục phạm vào điều xấu, và sau đó hắn chỉ việc đi cầu xin sự tha thứ nơi vị Thần đó. Điều đó là sai.

Lại giả dụ: Vào một vài tháng hạn hán, người dân muốn được có mưa để cày cấy làm ăn, thì lại giết thịt trâu bò... để hiến tế cho vị Thần, thử hỏi có vị Thần nào lại khát máu như vậy không? Đòi hỏi môn đồ phải có tế vật mới giúp đỡ con người, nếu là như vậy thì vị Thần đó không đáng thờ phụng.

Lại giả dụ: Một người đi giết người xong, lãnh án tử hình, ngay lúc đó cầu nguyện vị Thần cứu giúp, vậy vị Thần đó có cứu giúp được không?

Do vậy khi tin vào một điều gì đó thiêng liêng, phải tin tưởng bằng trí tuệ của mình, phân biệt rõ ràng đâu đúng đâu sai, bởi vì khi làm điều gì xấu thì chỉ chính chúng ta nhận lấy hậu quả chứ chẳng có ai có đủ sức mạnh cứu vớt chúng ta được.

Phật đã dạy: "Không nên chỉ tin theo, mà còn phải thực hành". "Nghiệp quả là do chính chúng ta tự tạo". Vì vậy, không phải chỉ ngồi một chỗ lần chuỗi tụng Kinh là chúng ta đã trở thành Hiền nhân, mà đọc Kinh xem Kệ, là để ngẫm nghĩ điều mà Đức Thế Tôn chỉ dạy cho chúng sinh như thế nào mà thực hành theo, không nên chỉ biết tin tưởng mù quáng mà không hiểu thấu triệt lý lẽ trong Kinh, như thế đọc Kinh chẳng khác nào ví như một cái máy thu âm, chỉ biết thu và phát...

==================

Mọi ý kiến hay hỏi đáp, xin các bạn hãy để lại trên trang nhà, tuy hiểu biết nông cạn, nhưng vì muốn chúng sinh hiểu biết hơn về Phật Pháp căn bản, nên tôi xin mạo muội trả lời những câu hỏi của các bạn. Nếu lỡ có gì sai sót, mong các bạn lượng thứ.
Mong được các bạn ủng hộ.
Mong Phật Pháp mãi mãi trường tồn.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bố Đại Hòa Thượng




Bố Đại là một Thiền sư Trung Quốc ở thế kỉ thứ 10. Tương truyền Sư hay mang trên vai một cái túi vải bố, có nhiều phép mầu và có những hành động lạ lùng mang tính chất "cuồng thiền". Lúc viên tịch, Sư mới thổ lộ cho biết chính Sư là hiện thân của Di-lặc, vị Phật tương lai. Trong nhiều chùa tại Trung Quốc và Việt Nam, người ta hay trình bày tượng Di-lặc dưới dạng của Bố Đại mập tròn vui vẻ, trẻ con đeo chung quanh.
Bố Đại ở Phụng Hóa Minh Châu triều Lương đời Ngũ Đại, tự xưng là Khế Thử. Hình dạng Sư thì lùn, mập, nói năng tự tại, ăn ngủ tùy tiện. Sư thường mang một bao bố trên vai để bỏ vào đó những vật người cúng dường. Sư được quần chúng mến phục vì có tài tiên tri thời tiết mưa nắng. Một khi Sư ngủ ngoài đường, mọi người biết trời sẽ tốt, ngược lại lúc Sư đi giày dép và kiếm chỗ tạm trú thì trời sẽ mưa.
Tính tình của Sư rất "ngược đời", đúng như tinh thần Thiền tông. Trả lời câu hỏi già trẻ bao nhiêu, Sư nói "già như hư không." Giữa chợ, có người hỏi tìm gì, "ta tìm con người", Sư trả lời. Một hôm có vị tăng đi phía trước, Sư liền vỗ vai ông ta nói: "Cho tôi xin một đồng tiền." Vị tăng bảo: "Nói được thì tôi cho ông một đồng tiền." Sư liền bỏ bao xuống đất đứng im lặng khoanh tay.
Sư có nhiều thần thông, ngủ ngoài tuyết, tuyết không rơi vào mình. 
Ngài Bố Đại Hòa Thượng là một vị có tấm lòng Từ Bi rộng lớn. Khi đi khắp đường lớn hẻm nhỏ, xin được bao nhiêu vật phẩm, Ngài lại phân phát cho lũ trẻ hay cùng Ngài nô đùa, chỉ giữ lại một ít lương thực để lót dạ.
Có người khinh bỉ, chửi mắng, nhổ cả nước bọt vào Ngài, như Ngài vẫn cứ thản nhiên bảo:
-"Nước bọt nhổ lên mặt, cứ để đó mau khô thôi".
Một vị Cư sĩ hỏi Bố Đại Hòa Thượng rằng:
"Hòa thượng đi đây đó, có đem đồ hành lý hay không?"

Ngài bèn đọc bài kệ :
Bình bát cơm ngàn nhà,
Thân chơi muôn dặm xa;
Mắt xanh xem người thế,
Mây trắng hỏi đường qua.
Trước khi tịch, Sư ngâm câu kệ:

Di-lặc, Chân Di-lặc
Phân thân thiên bách ức
Thời thời thị thời nhân
Thời nhân tự bất thức.
Di-lặc, chân Di-lặc
Phân thân trăm ngàn ức
Luôn luôn bảo người đời
Người đời tự chẳng biết.
Sau khi chết, có người vẫn thấy Sư ở nơi khác tại Trung Quốc. Người đời sau vẽ lại hình Sư với bị gạo và từ đó sinh ra hình Bồ Tát Di-lặc, ngày nay ở đâu cũng có.
~~ooo~~

Với một nụ cười hỷ xả, trong một tư thế ngồi thoải mái, Ngài Di Lặc qua hóa thân Bố Đại Hòa Thượng, xuất hiện như một Thiền Tăng cuồng ngạo và vui tươi. Đó là hình ảnh ước mơ về một đời sống thanh bình trong những tiếng cười ròn rã. 
Bố Đại Hòa Thượng, theo sự tích được chép lại trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục: Quê ở Minh Châu, huyện Phụng Hóa, trong vùng Chiết Giang ngày nay. Không ai rõ tên họ Ngài là gì, chỉ biết Ngài tự gọi là Bố Đại Hòa Thượng, nghĩa là Hòa Thượng Túi Vải. Tướng người mập mạp, trán hẹp, bụng lớn, như trong các tranh vẽ thường thấy ngày nay. Nói năng vô định, ngủ thì tùy chỗ; thường dùng một cây gậy, quảy một cái túi vải, hễ ai cúng cho món gì, Ngài bỏ cả vào trong túi. Vào chợ, vào xóm, thấy cái gì là xin cái đó, bất kể cá ươn hay rau thúi. Xin được, bỏ vào miệng; còn lại thì bỏ vào túi. Người thời bấy giờ gọi là "Trường Đinh Tử Bố Đại Sư", tức là "ông sư túi vải cây đinh dài". 
Có lần Ngài nằm trong tuyết, mà tuyết không thấm ướt đến mình. Người ta thấy thế cho rằng Ngài là một nhân vật kỳ lạ. Nếu Ngài đến xin hàng bán của ai, hàng đó nhất định sẽ bán chạy. Trời sắp sửa mưa, chắc chắn người ta sẽ thấy Ngài mang đôi guốc gỗ đẫm ướt đi bươn bã trên đường. Lúc trời hứa hẹn một ngày nắng ráo, người ta thấy Ngài treo cao đôi guốc gỗ trên cầu, nằm co chân mà ngủ. Cư dân lấy đó mà nghiệm thì có thể biết thời tiết sẽ tới. Cuộc đời Ngài để lại một số giai thoại đầy ẩn ngữ: 
Một thầy Tăng đi phía trước Ngài. Ngài chạy tới vỗ vào lưng. Thầy Tăng quay đầu lại, Ngài nói: - Cho xin một quan tiền. 
Thầy Tăng trả lời: - Nói được thì tôi cho Ngài một quan tiền ngay. Ngài bỏ túi xuống, khoanh tay đứng 
Lần nọ, Hòa thượng Bạch Lộc hỏi Ngài: - Túi Vải (Bố Đại) là thế nào? Ngài bỏ túi vải xuống. Hòa thượng Bạch Lộc lại hỏi nữa: - Cái việc của túi vải là thế nào? Ngài quảy lên vai mà đi. 
Lần khác, Hòa thượng Tiên Bảo Phúc hỏi: - Chỗ cốt yếu của Phật pháp là thế nào? Ngài bỏ túi vải xuống, khoanh tay đứng. Bảo Phúc nói: - Chỉ có vậy, hay có cái gì khác hơn nữa? Ngài liền quảy lên vai mà đi. 
Có một lần Ngài đứng giữa ngã tư, một thầy Tăng hỏi: - Hòa thượng làm gì ở đó? - Ngài đáp: - Đợi một người. 
- Đến rồi! Đến rồi!; - Ông không phải là người đó; - Ngài đó thế nào?; - Cho xin một quan tiền. 
Ngài có làm bài ca như sau: 
Chỉ cá tâm tâm tâm thị Phật
Thập phương thế giới tối linh vật
Tung hoành diệu dụng khả liên sanh
Nhất thiết bất như tâm chân thật
Đằng đằng tự tại vô sở vi
Nhàn nhàn cứu cánh xuất gia kiến
Nhược đồ mục tiền chân đại đạo
Bất kiến tiêm hào dã đại kỳ
Vạn pháp hà thù tâm hà dị
Hà lao cánh dụng tầm kinh nghĩa
Tâm vương bổn tự tuyệt đa tri
Trí giả chi minh vô học địa
Phi Thánh phi phàm phục nhược hồ
Bất cưỡng phân biệt thánh tình cô
Vô giá tâm châu bổn viên tịch
Phàm thị dị tướng vọng không hô
Nhơn năng hoằng đạo đạo phân minh
Vô lượng thanh cao xứng đạo tình
Huề cẩm nhược đăng cố quốc lộ
Mạc sầu chư xứ bất văn thinh

(Chính đó tâm tâm tâm là Phật
Mười phương thế giới nó linh nhất
Dọc ngang diệu dụng có gì đâu
Nhất thiết sao bằng tâm chân thật
Ngời ngời tự tại chẳng làm chi
Phới phới rồi xa xuất gia thấy
Nếu thấy trước mắt đạo lớn thật
Không thấy tơ hào mới quá kỳ
Vạn pháp y nhiên tâm vẫn vậy
Nhọc gì mà phải tìm nghĩa kinh
Tâm vương vốn đã biết cùng khắp
Người trí chỉ cần cái không học
Chẳng phàm, chẳng Thánh, kể mà chi
Chớ gượng phân biệt thì rõ Thánh
Tâm châu vô giá vốn tròn sáng
Phàm là dị tướng tạm gọi không
Người nay hoằng đạo, đạo phân minh
Vô lượng thanh cao xứng đạo tình
Quảy gánh bước lên đường cố quốc
Lo gì khắp chốn chẳng nghe danh)

Ngài còn làm bài kệ khác nữa:  
Nhất bát thiên gia phạn
Cô thân vạn lý du
Thanh mục đỗ nhơn thiểu
Vấn lộ bạch vân đầu

(Chiếc bát cơm ngàn nhà
Thân côi muôn dặm xa
Mắt xanh nào ai có
Hỏi đường mây trắng qua)
Đời Lương, niên hiệu Trinh Minh thứ hai, năm Bính Tý, tháng Ba , khi sắp thị tịch, Ngài có nói bài kệ:  
Di lặc chân Di lặc
Phân thân thiên bách ức
Thời thời thị thời nhơn
Thời nhơn tự bất thức

(Di lặc thiệt Di lặc
Hóa thân trăm nghìn ức
Thường hiện cho người đời
Người đời không ai biết)
Nói kệ xong, Ngài yên lành mà tịch. Về sau, ở châu khác, có người cũng thấy Ngài mang túi vải mà đi. Nhân đó, người ta mới tranh nhau vẽ tượng Ngài. Toàn thân của Ngài cho tới đời nhà Tống, còn được thấy tại chùa Nhạc Lâm.