Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012

Niệm Phật cứu chủ khỏi đọa ác đạo




Thuở xưa, tại quận Ninh Ba có tên Trương Mân, cha mẹ khuất sớm, côi cút một mình, nương náu với bà con cho qua ngày tháng, sau đến làm mướn với người phú hộ ở cách làng, chuyên nghề bện dép lác.
Thường bữa sớm mai, chàng gánh giỏ đi cắt lác, hay đi ngang qua trước một cảnh chùa, nghe các sãi công phu, chuông trống inh ỏi. Lần nào chàng cũng để giỏ trước cửa chùa, vào xem một lát rồi mới đi. 
Hòa thượng thường thấy như vậy, nên một bữa nọ, Ngài kêu chàng mà hỏi rằng: "Nhà ngươi muốn tu hay sao mà ngày nào cũng thấy đến đây?"
Trương Mân nghe Hòa thượng hỏi mấy lời, liền chấp tay thưa rằng: "Bạch thầy! Con muốn lắm, nhưng con là đứa ở đợ với người , không biết tính làm sao mà tu cho được".
Hòa thượng nói: "Hễ muốn là được, sự tu hành chẳng luận là chủ hay đầy tớ, và cũng chẳng cần người ở am tự hay kẻ tại gia, hễ có lòng thành thì gặp cảnh ngộ nào cũng tu được cả. Như nay ngươi đang ở đầy tớ cho người, nếu ngươi có chí muốn tu thì ta dạy một cách rất dễ dàng , miễn ngươi chí thành thì có hiệu nghiệm".
Trương Mân nghe nói rất mừng, liền quỳ xuống đảnh lễ mà thưa rằng: "Xin nhờ ơn thầy chỉ giáo dùm cho đề tử!".
Hòa thượng nói: "Ngươi cứ về tập ăn chay lần lần, trước ăn chay kỳ, sau sẽ ăn trường và giữ năm điều cấm cho tinh nghiêm, rồi cứ thường ngày niệm sáu chữ "Nam Mô A Di Đà Phật". Mỗi khi niệm Phật phải chuyên tâm chú ý, đừng cho xao lãng lúc nào, thì cả đời ngươi sẽ được bình yên , mà đến lúc lâm chung lại được siêu sinh về Tịnh độ nữa".
Trương Mân nghe sư ông dạy bảo mấy điều thì hết sức vui mừng, bèn bái tạ thầy rồi về nhà cứ y theo lời dạy, thành tâm phát nguyện ăn chay trường và mỗi bữa thường niệm Phật.
Chàng lại đan một cái giỏ bằng tre để trước mặt, mỗi khi niệm Phật một biến, thì ngắt một cọng lác bỏ vào giỏ ấy, như lần một hột chuỗi bồ đề vậy.
Mỗi khi cọng lác đầy giỏ, chàng liền xách đến chùa bạch cùng Hòa thượng, rồi đem ra trước bàn thờ Địa Tạng Bồ Tát vái đốt, cứ chí tâm làm như vậy được mười năm.
Một bữa nọ, ông chủ của Trương Mân bị đau chứng ung thư phát thối, người nhà đi tìm rước đủ lương y cứu chữa, nhưng bệnh đã không thuyên giảm chút nào mà càng ngày lại càng nặng.
Một hôm, ông nằm chiêm bao thấy quỷ sứ đến bắt ông dẫn về nơi Minh phủ, bị vua Diêm La quở trách và kể hết những tội ác của ông khi ở trên dương thế.
Ông phú hộ nghe Diêm chúa tỏ hết tội của mình, không sót một khoảng nào, thì liền sợ hãi, lạy lục và khóc lóc xin tha thứ cho về dương thế lo tu phước, hòng chuộc tội đã lỡ lầm.
Diêm chúa thấy ông đã ăn năn tự hối và nghĩ đến Trương Mân mỗi khi niệm Phật có cầu nguyện cho ông, nên phán rằng: "Ngươi khi ở trên dương thế đã làm nhiều điều ác đức, cho vay đặt nợ một vốn năm bảy lời, lập mưu này bày kế nọ mà lo chứa tiền của cho nhiều, chẳng thương kẻ khó, lại làm nhiều sự ức hiếp cho người nghèo. Nếu chiếu theo luật Diêm đình mà phán xử, thì phải bỏ nhà người vào rừng kiếm non đao thì mới đáng. Nhưng vì ngươi có một đầy tớ tên là Trương Mân, rất trung tín không ai bì, thường bữa hay niệm Phật, lại có lòng cầu nguyện cho ngươi, nhờ vậy mà ngươi được giảm bớt tội. Nay ngươi nên đền ơn cho nó một ngàn nén bạc, để nó làm những điều từ thiện thì mới được tiêu tội và thêm phước cho ngươi!"
Ông phú hộ nghe vua Diêm la phán dạy như vậy thì mừng rỡ vô cùng, liền giật mình thức dậy. Ông bèn kêu tất cả vợ con đến và thuật lại điềm chiêm bao ấy thì cả nhà nghe nói đều lấy làm kỳ.
Ông bèn kêu Trương Mân nói rằng: "Con đến ở cùng ông đã lâu, không dè con có lòng chí thành, biết ăn chay niệm Phật đến nỗi cảm kích đến Diêm đình, lại thành tâm cầu nguyện cho cả nhà ông được thêm phước thọ. Nay ông còn sống trên dương thế cũng nhờ công đức của con, vậy ông cho con một ngàn nén bạc, tự ý con liệu việc gì làm có phước thiện, thì con lấy bạc ấy dùng!"
Trương Mân nói: "Thưa ông! Con vì nghèo cực, đến ở mướn cùng ông, manh áo bát cơm cũng nhờ ông bảo dưỡng. Con có chút công đức thì đâu xứng đáng cái ơn ấy mà ông cho bạc nhiều như thế! Con thưa thiệt cùng ông! Cách nay 10 năm, con có đến chùa gặp ngài Hòa thượng thương con, dạy cách ăn chay niệm Phật, nên con thành tâm tu niệm lâu ngày và thường cầu nguyện cho ông được phước thọ tăng long, để đền đáp lại ơn cao dày trong muôn một. Đó cũng là bổn phận của con phải làm.
Nếu ngày nay ông vâng lời Diêm vương cho tiền bạc, thì con biết để làm gì. Cha mẹ đã mất, vợ con cũng không nên con không dám nhận. Vậy con xin thưa lại cho ông rõ điều này: Nguyên ngày trước, con vào chùa thường nghe Hòa thượng giảng về sự tu phước và nói rằng việc lập chùa, đúc tượng Phật, bố thí cho kẻ nghèo đói và bắc cầu đắp lộ cho người đi, thì được nhiều phước đức. Con nghe nói cũng muốn làm, nhưng ngặt vì không tiền, nên không thể đạt kỳ sở nguyện. Thôi ngày nay số tiền ông hứa cho con đó, xin để lại lập một cảnh chùa, còn dư bao nhiêu thì ông bố thí cho dân nghèo trong làng và làm một cái cầu bắc ngang sông này cho hành khách qua lại để khỏi bị cái họa đắm đuối, thì con rất vui lòng!"
Ông phú hộ nghe mấy lời của Trương Mân xin, bèn thỉnh Hòa thượng đến chứng minh cho ông phát nguyện ở giữa Phật đài, rồi cách ít lâu bệnh ông lành như cũ.
Khi vừa mạnh, ông liền kêu thợ đến cất một cảnh chùa gần bên nhà ông, để cho Trương Mân ở tu hành, còn dư tiền bao nhiêu thì đem ra bố thí cho kẻ nghèo và bắt cầu đắp lộ, y như lời của ông đã nguyện.

Lời bình: Xét như chuyện niệm Phật của Trương Mân cứu chủ đã nói trên đó, thì biết pháp môn Tịnh độ dễ tu và dễ đặng, lợi cho mình và lợi cho người, thật là một pháp lợi ích trong Phật pháp.
Nói về phần dễ tu dễ chứng, chẳng những người thượng trí tu được mà thôi, lại hạng người ngu cũng tu được nữa - chẳng những người giàu sang tu được mà thôi, lại hạng người nghèo hèn cũng tu được nữa - chẳng những người thong thả tu được mà thôi, lại hạng người bận việc cũng tu được nữa - chẳng những nhiều người xuất gia tu được mà thôi, lại hang người tu tại gia cũng tu được nữa.
Nếu đã tu được thì chắc rõ cái hiệu quả "Hiện tiền phước thọ, một hậu vãng sinh" quyết không sai chạy một mảy, dẫu cho người nào mỗi bữa niệm Phật mà tán tâm hay vọng tưởng đi nữa thì đời sau cũng được hưởng sự an lạc nơi cõi nhân thiên, chớ không bao giờ bị đọa.
Còn nói về phần lợi mình và lợi người, thì chẳng mình tự tu tự độ lấy mình mà thôi, đến khi người biết thể theo cái bi nguyện của Phật, Bồ tát, mỗi bữa sau khi niệm Phật, nếu chú nguyện cho cha mẹ, ông bà, họ hàng quyến thuộc đang hiện tại hay đã quá vãng rồi, thì phần mấy người đó sẽ được nhờ cái ảnh hưởng ấy, nếu sống thì thêm phước thêm duyên, nếu chết rồi thì cũng đặng siêu sinh về Phật Quốc.
Bởi vậy, cho nên Trương Mân niệm Phật mà người chủ được tha tội hoàn hồn, thì đủ biết cái thần lực diệu dụng của Phật pháp thật là vô lượng vô biên.
Vậy xin ai là người đã có lòng tín ngưỡng theo Phật Pháp, không nên lấy chỗ chưa nghe chưa thấy của mình mà cho là hoang đường, rồi khinh thị hai chữ "Niệm Phật" thì uổng lắm.

Đức Phật thăm Tỳ Kheo lâm bệnh




Đức Thế Tôn Chánh Đẳng Chánh Giác sau khi thành đạo, vì muốn độ người nên an trú tại thành Xá Vệ. Chư Thiên, nhân loại cung kính cúng dường, tôn trọng tán thán, danh tiếng vang khắp mười phương, mọi loài đều xem Ngài như bậc tối thắng trong các bậc xứng đáng được cúng dường. Chúng sinh nào cầu phước đức, Ngài ban cho phước đức. Chúng sinh nào cầu trí tuệ, Ngài ban cho trí tuệ. Chúng sinh nào khổ não, Ngài làm cho an lạc. Ngài vì chư Thiên, nhân loại mà mở cửa cam lồ. Thế nên, 16 nước lớn tại cõi Thiên Trúc lúc bấy giờ không nước nào là không ngưỡng mộ phục tùng. Những ai tự thân chứng kiến được cách an trú của Phật thì đều hiểu rằng đó là cách an trú của chư Thiên, là cách an trú của Phạm Thiên, là cách an trú của Hiền Thánh, là cách an trú cao quý nhất, là cách an trú với trí tuệ tuyệt vời, được hòan toàn tự tại, vô ngại. Thế nên, Đức Như Lai an trú tại thành Xá Vệ.
Thế rồi một hôm, Phật bảo A Nan:
- Ông hãy khóa cửa phòng lại rồi đi với ta, Như Lai muốn đi thăm viếng chỗ ở của chư Tăng.
A  Nan  đáp:
- Lành thay, bạch Thế Tôn!
Rồi thầy khóa cửa phòng lại đi theo sau Phật, Thế Tôn đi đến một căn phòng bị hư nát, thấy có một Tỷ kheo đang lâm bệnh, nằm trên phân tiểu, không thể đứng dậy nổi, Phật liền nói:
- Này Tỷ kheo! Bệnh tình của ông như thế nào? Cơn đau tăng hay giảm?
- Bạch Thế Tôn! Cơn đau chỉ có tăng chứ không giảm.
- Hôm nay có ăn được không?
- Dạ thưa không được, bạch Thế Tôn!
- Hôm qua ăn có được không?
- Dạ thưa không được, bạch Thế Tôn!
- Hôm kia ăn có được không?
- Cũng không được, bạch Thế Tôn! Con không được ăn nay đã 7 ngày.
- Có thức ăn mà không ăn được hay không có thức ăn nên không ăn?
- Không có thức ăn, bạch Thế Tôn!
- Ở đây có Hòa thượng của ông không?
- Không có, bạch Thế Tôn!
- Có các Hòa thượng khác không?
- Không có, bạch Thế Tôn!
- Có thầy Giáo thọ của ông không?
- Không có, bạch Thế Tôn!
- Có các thầy Giáo thọ khác không?
- Cũng không có, bạch Thế Tôn!
- Phòng bên cạnh không có Tỷ kheo nào sao?
- Bạch Thế Tôn! Vì con bị bệnh hôi thối, nên họ đã dời đi nơi khác, do  đó, con cô độc đau khổ lắm, bạch Thế Tôn! Con cô đơn lắm. Bạch Thiện Thệ!
- Ông đừng sầu não nữa, Ta sẽ giúp đỡ ông. Này Tỷ kheo! Hãy lấy y phục đưa đây, ta sẽ giặt cho.
Khi ấy, A Nan bạch với Phật:
- Bạch Thế Tôn! Y của Tỷ kheo bệnh để đó con giặt cho!
- Vậy ông giặt y đi, để Ta xối nước cho.
Thế rồi, A Nan đem y của bệnh nhân ra giặt, còn Thế Tôn thì xối nước. Khi giặt xong, thầy đem đi phơi nắng, rồi thầy bồng Tỷ kheo bệnh đặt nằm trên một tấm ra ở chỗ đất trống, lau chùi phân uế, lại đem giường gối và các vật bất tịnh ra ngoài phòng, rưới nước trong phòng, quét dọn sạch sẽ, dùng khăn lau lau sàn nhà, giặt giũ giường nệm, vá lại ghế dây, rồi đem chúng đặt vào chỗ cũ. Tiếp đến, thầy tắm rửa cho Tỷ kheo bệnh sạch sẽ, rồi bồng thầy đặt nằm lại trên giường.   Khi ấy, Thế Tôn  dùng bàn tay mềm mại, sắc vàng óng ánh được kết tinh bằng vô lượng công đức xoa trên trán Tỷ kheo, và hỏi:
- Cơn đau của ông tăng hay giảm?
- Bạch Thế Tôn, nhờ ơn Thế Tôn dùng bàn tay đặt trên trán con, nên mọi thống khổ đều tiêu tan hết.
Bấy giờ, Thế Tôn bèn tùy thuận thuyết pháp khiến thầy sinh tâm hoan hỷ. Rồi Thế Tôn tiếp tục thuyết pháp làm cho thầy đạt được pháp nhãn thanh tịnh.
Sau khi Tỷ kheo khỏi bệnh, Thế Tôn bèn đi đến chỗ đông đủ các Tỷ kheo, trải tọa cụ ngồi, rồi đem sự việc trên trình bày lại đầy đủ với các Tỷ kheo. Đoạn, Ngài hỏi thầy Tỷ kheo ở phòng bên cạnh là ai, thì vị ấy đáp:
- Chính là con đây, bạch Thế Tôn!
Do vì thái độ thờ ơ của thầy đối với người bệnh, nhân cơ hội này, Phật muốn nhắc nhở các Tỷ kheo cần phải quan tâm giúp đỡ lẫn nhau nên ngài nói với Tỷ kheo:
- Này các Tỷ kheo! Những người đồng hạnh với các ông bị đau ốm, các ông không săn sóc cho nhau thì ai săn sóc? Các ông mỗi người đều khác họ, khác nhà, vì niềm tin mà bỏ nhà xuất gia, sống không nhà, đều cùng một họ Sa môn Thích tử, đồng  tu phạm hạnh, nếu không săn sóc lẫn nhau thì ai săn sóc? Này các Tỷ kheo! Ví như các con sông Hằng, sông Diêu Phù Na, sông Tát La, sông Mê Hê chảy vào biển cả, liền mất tên cũ mà hòa chung thành một hợp thể, gọi là đại dương. Các ông cũng như vậy, ai nấy đều bỏ họ cũ mà cùng chung một họ mới là Sa môn Thích tử. Các ông không săn sóc cho nhau thì ai sẽ săn sóc? Ví như các chủng tộc Sát lợi, Bà la môn, Phệ xá, Thủ đà la, mỗi người đều khác họ, rồi cùng vượt đại dương đi kinh doanh trên thương trường thì được gọi là người đi buôn trên biển.. Cũng như thế đó, các Tỷ kheo, các ông mỗi người đều khác họ, khác nhà, vì niềm tin, bỏ nhà xuất gia, sống không nhà, đều cùng một họ là Sa môn Thích tử, nếu không săn sóc lẫn nhau thì ai săn sóc? Từ nay về sau, nếy Tỷ kheo bệnh thì Hòa thượng bổn sư phải săn sóc. Nếu không có Hòa thượng bổn sư thì các Hòa thượng khác phải săn sóc. Nếu ai không săn sóc thì phạm tội Việt tì ni. Nếu có thầy Giáo thọ thì thầy Giáo thọ phải săn sóc. Nếu ai không săn sóc thì phạm tội Việt tì ni. Nếu có người cùng phòng thì người cùng phòng phải săn sóc. Nếu không có người cùng phòng thì người ở phòng bên cạnh phải săn sóc. Nếu ai không săn sóc thì phạm tội Việt tì ni. Nếu như người ở phòng bên cạnh cũng không có thì Tăng phải sai người chăm sóc. Tùy theo người bệnh cần bao nhiêu người thì phải sai bấy nhiêu người lo việc nuôi bệnh. Nếu như không săn sóc thì tất cả chúng Tăng đều phạm tội Việt tì ni.
Này các Tỷ kheo! Các ông hãy trở về săn sóc Tỷ kheo ở phòng mình cũng như phòng bên cạnh, nếu như người ấy lâm bệnh.

Lời bình: Đức Phật là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, là đấng Cha lành của khắp mười phương, kim thân quý báu, thanh khiết nhưng Ngài vẫn chẳng nề hà thân thể hôi thối và bệnh tật của thầy Tỳ kheo kia. Ngài đã cho chúng ta thấy tấm lòng Từ bi vô ngần của Ngài, không phân biệt bất kỳ tầng lớp nào, bất kỳ chúng sinh nào. Vậy thì cầu chúc cho mọi người vững tâm tu tập, cho đến khi đạt được Trí Huệ vô ngại của bậc Phật-Đà. 

Thứ Năm, 11 tháng 10, 2012

Những câu chuyện đạo lý Phật Giáo bằng tranh

1./ Chỉ "Mặt Trăng"

Lời bình: Xin mượn câu truyện "Ngón tay chỉ trăng" của Đại Sư Thiện Giác để được bắt đầu . Cũng là một cách để các bạn hiểu rằng những gì viết dưới đây không phải là "Ngón tay" . Ngôn từ tự nó không chứa đựng nhận thức. Phật Pháp cũng không ban phát sự giải thoát. Phật Pháp chính là sự giải thoát , là hướng ta tới sự giải thoát, nhưng quan trọng nhất vẫn chính là bản thân ta, mà ngôn ngữ chỉ là phương pháp để đạt tới giải thoát. Vì vậy không nên chấp vào ngôn ngữ mà ảnh hưởng đến tâm Bồ Đề nhé.
2./Cõng đàn bà qua sông


Lời bình:Câu nói của Thiền Sư Tân Đản với chú tiểu là:"Ta đã bỏ nàng xuống lâu rồi. Có phải con vẫn cõng nàng?" không mang theo nghĩa đen là "cõng" và "bỏ", mà ý nghĩa sâu xa chính là sự buông bỏ của Tâm ham đắm Dục. Tâm của bạn đã buông bỏ chưa?


3./Người mù và cây đèn lồng


Lời bình:Trong một sự việc nào đó, trước khi giải quyết nó, bạn phải sử dụng tri kiến của mình mà phân biệt đúng sai thật rạch ròi. Chớ nên để lời nói của kẻ khác làm sai nhiễu tri kiến của mình, nếu không thì sẽ có lúc ta sẽ gặp rắc rối, ví như cây đèn lồng kia vậy.


4./Thứ tự giữa sống và chết



Lời bình:Trong cuộc sống này, đối với nhiều người thì cái chết có lẽ là ghê sợ nhất, nhưng thực ra cái chết không có gì đáng sợ, nếu ta hiểu biết được nó và chuẩn bị sẵn sàng tâm lý để đón lấy nó bất kỳ lúc nào. Nhưng dù gì, thì ít có thứ nào hạnh phúc hơn có được một cái chết an lạc và thanh thản, là tiền đề cho một sự bắt đầu kiếp sống mới an lạc, hạnh phúc. Để đạt được cái chết an lạc, và kiếp sau hạnh phúc thì chỉ có một điều phải làm là tích tạo phước đức từ những việc thiện mà ta gắng làm trong kiếp này, như thế thì những điều ta mong muốn mới mãn vẹn được.


5./Cam đoan yên lặng


Lời bình:Câu chuyện trên rất thú vị, ý nghĩa của nó cũng rất thiết thực. Trước khi phê bình một ai đó, thì ta nên nhìn lại chính bản thân ta, nếu không thì có thể ta sẽ phạm phải sai lầm của người khác. Một người biết lắng nghe tốt, thì thường họ cũng quyết định tốt mọi sự việc.


6./Không thể nói ra


Lời bình:Ý nghĩa câu chuyện trên cũng khá dễ hiểu. Thường khi làm một việc gì đó mà bắt buộc ta thường phải giải thích, biện luận, có thể sẽ đi đến sự sách vở, không thiết thực. Cách tốt nhất để làm rõ điều mình cần biện luận là hành động.



Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012

Cứu người, tuổi thọ được tăng thêm


Vương Chí Nhân là một thương nhân người An Huy, tuổi đời đã quá 40, tuy công việc buôn bán được thuận buồm xuôi gió, tiền của tích chứa ngày một nhiều, song điều đáng tiếc là vẫn chưa có được đứa con nào, khiến cho cảnh nhà tuy giàu có mà không khỏi phải quạnh hiu, buồn bã.

Theo quan niệm thời xưa, việc không có con nối dõi tông đường là điều tối kỵ. Vì thế, Vương Chí Nhân ngày đêm lo lắng, lòng dạ như lửa đốt, mỗi khi nghe ai nói có nơi nào cầu đảo linh thiêng đều cất công tìm đến, nhưng nhiều lần như vậy mà không có kết quả gì.

Một hôm, có vị thầy tướng số lỡ đường ghé vào cửa tiệm của Vương Chí Nhân xin ngủ trọ. Vương Chí Nhân tiếp đãi rất chu đáo. Trước khi chia tay, thầy tướng nhìn thẳng vào mắt ông rồi nói:

– Lẽ ra tôi không thể nói việc này, nhưng thấy ông là người nhân đức hiền hậu, chỉ mới gặp tôi lần đầu mà đã hết lòng giúp đỡ. Chút tình tri ngộ này tôi không thể không báo đáp, vậy có mấy lời mong ông ghi nhớ. Tướng mạo của ông cho thấy là trong đời này ông không thể có con, vậy ông nên từ bỏ mọi sự cầu đảo, đừng phí công vô ích. Hơn nữa, trong mắt ông có nhiều ám khí, chỉ trong vài tháng tới đây nhất định sẽ gặp tai họa lớn, tính mạng khó bảo toàn. Ông nên cẩn thận giữ gìn.

Vương Chí Nhân nghe qua mấy lời này thì không cầm được nỗi lo sợ, mặt biến sắc, mồ hôi ướt đẫm cả thân, cảm thấy tất cả những gì mình có trong đời đều là vô nghĩa, vì đã không còn hy vọng có con nối dõi, mà mạng sống cũng chẳng còn được bao lâu. Ngay hôm đó liền đóng cửa tiệm, chuẩn bị hành lý lên đường trở về nhà.

Trên đường về nhà, ông tạm nghỉ nơi một quán trọ nhỏ ven đường. Lúc đó đang là mùa mưa, suốt từ đầu hôm đến gần giữa khuya trời nổi gió lớn, mưa đổ xuống như trút nước khiến căn nhà trọ như bị lung lay từng hồi theo những luồng gió giật.

Khoảng nửa đêm thì mưa gió mới ngừng tạnh. Vương Chí Nhân trằn trọc mãi vẫn không tài nào chợp mắt được, lòng miên man suy nghĩ về những lời của thầy tướng số. Hồi lâu liền mở cửa nhìn ra ngoài, thấy trời quang mưa tạnh, trăng sáng vằng vặc. Mấy chậu hoa trước sân quán trọ đua nhau tỏa hương khắp nơi, trên cành lá vẫn còn lưu lại những giọt nước mưa long lanh dưới ánh trăng sáng, trông đẹp lạ kỳ.

Phong cảnh tú lệ sau cơn mưa dưới ánh trăng càng thêm thanh thoát vô cùng, cảnh đêm tịch mịch càng làm cho lòng người thêm hứng khởi, Vương Chí Nhân liền mở cửa bước ra ngoài đi dạo một lát. Ông thong thả bước từng bước nhẹ nhàng ra hướng bờ sông, bỗng nhiên từ xa thoáng thấy một người thiếu phụ tay ôm đứa bé cùng nhảy xuống sông. Vương Chí Nhân kinh hãi vô cùng, định nhảy xuống sông cứu người nhưng sực nhớ lại là mình không biết bơi. Đang lúc hoảng hốt liền ngẩng đầu nhìn quanh, thấy gần đó có mấy chiếc thuyền của dân chài, Vương Chí Nhân liền cất tiếng la lớn kêu cứu. Nhưng ông la đã khản cổ mà người trên thuyền chỉ thấy bước ra mạn thuyền đứng xem, dường như chẳng ai nghĩ đến việc cứu người. Vương Chí Nhân liền nói lớn: “Nếu ai cứu được người dưới sông sẽ được trả 20 lượng vàng.”

Vừa nghe ông nói như vậy, rất nhiều người dân chài liền tranh nhau chèo thuyền đến, cuối cùng cứu sống được người thiếu phụ và em bé.

Vương Chí Nhân giữ lời hứa trao đủ số vàng 20 lượng cho người cứu được mẹ con thiếu phụ kia. Sau đó ông mới quay sang hỏi người thiếu phụ xem duyên cớ vì sao lại ôm con nhảy xuống sông như thế. Người thiếu nữ khóc lóc kể rằng:

– Chồng tôi quanh năm đi làm thuê cho người ta kiếm sống, trong nhà nuôi được một con heo, định bán để trả tiền thuê nhà. Hôm qua có người mua heo đi ngang qua nhà, tôi gọi vào bán. Sau khi ông ta đi rồi mới phát hiện số bạc ông ấy đưa toàn là bạc giả. Tính chồng tôi rất nóng nảy, nếu chàng biết được sẽ đánh tôi chết mất! Hơn nữa nhà tôi lại quá nghèo, nay gặp việc này không biết lấy đâu ra tiền trả tiền thuê nhà, cũng chẳng có tiền nuôi con, tôi chỉ còn cách ôm con nhảy xuống sông chết quách cho xong!

Vương Chí Nhân nghe cô kể lể sự việc thì động lòng trắc ẩn, thương xót vô cùng, không hỏi thêm một lời nào, lặng lẽ dốc hết số bạc mang theo còn lại trong túi đưa cho cô và nói:

– Số bạc này tuy không lớn lắm nhưng chắc cũng đủ để vợ chồng cô làm vốn buôn bán nhỏ mà sinh sống. Cô nên nghe lời tôi, trở về nói thật với chồng, đừng nghĩ quẩn nữa.

Thiếu phụ mừng rỡ vô cùng, hết lời cảm tạ ơn cứu mạng của Vương tiên sinh. Cô lập tức trở về nhà, cũng đúng lúc người chồng đi làm thuê ở xa vừa về đến. Thiếu phụ kể lại một cách tường tận chuyện bán heo bị lừa lấy phải bạc giả và cả chuyện mình vì sợ trách mắng nên ôm con nhảy xuống sông tự vẫn, sau đó gặp vị ân nhân ra tay cứu giúp cho chồng nghe.

Người chồng nghe xong cũng hết sức cảm động, liền bảo vợ lập tức đưa mình đến quán trọ để cảm ơn Vương tiên sinh.

Lúc hai vợ chồng họ đến quán trọ, trời đã quá khuya, không gian tĩnh mịch như tờ, mọi người đang chìm sâu trong giấc ngủ. Vương Chí Nhân cũng đã đóng cửa an giấc nồng, người thiếu phụ liền gõ cửa và nhỏ nhẹ gọi Vương tiên sinh. Vương tiên sinh nhận ra giọng nói của thiếu phụ lúc nãy, liền ngồi thẳng trên giường trả lời với giọng hết sức nghiêm túc:

– Cô là gái đã có chồng, tôi lại đang ở một mình, làm sao có thể gặp mặt nhau vào lúc nửa đêm khuya khoắt như thế này? Cô hãy mau trở về nhà đi!

Người chồng đứng bên nghe vậy liền nói lớn:

– Thưa ân nhân, cả hai vợ chồng chúng tôi cùng đến đây để cảm tạ đại ân đại đức của ân nhân.

Vương Chí Nhân nghe có giọng nói của người đàn ông thì không còn hiềm nghi gì nữa, mới khoác áo bước xuống giường đẩy cửa bước ra ngoài để mời vào. Ngờ đâu đúng vào lúc đó bỗng nghe trong phòng có tiếng động rất lớn, khiến cả ba người đều giật mình. Nhìn lại trong phòng thì hóa ra một cây xà gỗ lớn trên mái nhà đã rơi xuống đè bẹp ngay trên chiếc giường của Vương tiên sinh vừa nằm lúc nãy. Vương Chí Nhân kinh hãi nói lớn:

– Ôi chao! Nguy hiểm thật! Nếu không có hai người gõ cửa gọi tôi ra, nhất định tôi đã bị đè chết rồi! Thật cảm ơn hai người!

Hai vợ chồng người thiếu phụ đồng thanh nói:

– Chúng tôi nào có công gì, đây quả là ông trời có mắt, tiên sinh ở hiền gặp lành nên mới thoát được đại nạn đó!

Vương Chí Nhân trở về nhà, bỏ hẳn công việc buôn bán, nghỉ ngơi luôn mấy tháng, trong lòng vẫn chưa hết lo sợ về lời cảnh báo của thầy tướng số, song vẫn cứ bình an vô sự không thấy gì xảy ra. Nhưng rồi cứ nằm nhà mãi không có việc gì làm cũng đâm ra buồn chán nên ông quyết định mở lại cửa tiệm buôn bán.

Gần một năm sau, một hôm bỗng nhiên gặp lại thầy tướng số cũ. Vương tiên sinh nhớ đến lời tiên đoán của ông ta liền mời vào cửa tiệm, vừa cười vừa nói:

– Năm ngoái ông có lời đoán tướng mạo của tôi, tôi vẫn tin ông nên rất lo sẽ có tai họa xảy tới. Đừng nói là trong vòng vài tháng, tôi chờ đến nay đã hơn một năm rồi mà có thấy tai họa gì đâu. Ông không nói đùa với tôi đấy chứ?

Thầy tướng số nghiêm nét mặt, quan sát Vương Chí Nhân hồi lâu rồi mới nói:

– Tôi vốn xem ông là người tốt, làm sao có thể dám nói lời đùa cợt? Sự thật là khí sắc của ông ngày nay đã hoàn toàn thay đổi, chắc chắn ông đã làm được một việc gì rất tốt đẹp, như cứu sống mạng người chẳng hạn. Ông hãy tự soi gương mà xem, ngày trước râu ria của ông chỉ như mấy sợi lông tơ, nay bỗng nhiên mọc ra rậm rạp, giọng nói trầm hùng, tia mắt lại chiếu sáng lấp lánh không còn ám khí. Cứ theo tướng mạo lúc này mà nói thì ông chắc chắn không chỉ có nhiều con mà sẽ còn được tăng thêm tuổi thọ nữa.

Vương Chí Nhân nghe nói hết sức vui mừng, niềm hy vọng có con nối dõi lại bắt đầu nhen nhúm. Quả nhiên, chỉ ngay trong năm đó vợ ông đã sinh được một người con trai, rồi những năm sau đó lại lần lượt sinh thêm 3 người con trai nữa.

Về sau, Vương Chí Nhân sống thọ đến 96 tuổi mới an nhiên lìa trần.

Lời bình: "Con kiến mà còn ham sống", câu nói này cho thấy sinh mạng vô cùng quý giá. bất kỳ sinh vật nào đều còn quý trọng đến, huống hồ là con người. Gặp người hiểm nghèo mà cứu giúp, đó là hạnh Bồ Tát, không những mang lại lợi ích to lớn về mặt vật chất phàm tục, mà còn gặt hái được vô lượng công đức thoát tục.

Cunda - Gã đồ tể



Nay sầu, đời sau sầu…


Giáo pháp này đức Đạo sư dạy khi Ngài cư ngụ tại Veluvana (tinh xá Trúc Lâm) nhắm đến Cunda, người đồ tể mổ heo.

Chuyện kể rằng trong năm mươi lăm năm Cunda sống bằng nghề mổ heo để ăn hay bán. Nhằm lúc đói kém, ông ta đi về nông thôn với chiếc xe đầy nhóc gạo và trở về đầy ắp heo con, mua trong các làng, với giá mỗi con chỉ nửa lít hoặc một lít gạo.

Sau nhà, ông ta có một miếng đất rào lại thành một chuồng heo, và ông ta nuôi heo với tất cả các loại cây cỏ và phân. Khi nào ông ta muốn giết heo, ông ta trói heo thật chắc chắn vào một cây cột và nện nó bằng một cây chày vuông để làm thịt nó sưng phồng lên và mềm đi. Rồi, banh hàm heo và lồng vào miệng nó một cái nêm nhỏ, ông ta rót nước thật nóng từ một nồi đồng đổ xuống họng nó. Nước nóng thấm vào dạ dày heo, làm lỏng phân, và tống ra ngoài hậu môn phân nóng với nước. Nếu còn một cục phân nhỏ sót lại trong bao tử heo, thì nước chảy ra biến màu và đục, nhưng khi bao tử heo đã sạch, nước chảy ra sẽ trong và sạch. Chỗ nước còn lại ông ta đổ lên lưng heo, và nước sẽ làm tuột da, lột lớp da đen. Rồi ông ta thui lớp lông cứng bằng một cây đuốc. Cuối cùng ông cắt đầu heo bằng một thanh kiếm nhọn. Khi máu phun ra, ông ta hứng vào dĩa, rồi ông quay heo, bôi máu hứng được lên da. Và ông ta ngồi vào bàn cùng vợ con ăn thịt heo quay. Thịt còn lại, ông ta bán. Theo cách này, ông ta đã sinh sống trong năm mươi lăm năm. Dù đức Đạo sư ở tinh xá bên cạnh mà không có một ngày nào Cunda cúng dường Ngài, dù là một nắm hoa hay một muỗng cơm, cũng không làm một việc công đức nào cả.  


Một hôm ông mắc bệnh, và dù ông ta vẫn còn sống, ngọn lửa của đại địa ngục A-tỳ đã bốc cháy trước mặt. (Ngọn lửa A-tỳ là một cực hình có sức thiêu đốt kinh khủng có thể phá hủy mắt người nào nhìn cách một trăm dặm).


Thật ra, ngọn lửa ấy được mô tả như sau: “Ngọn lửa luôn luôn phụt ngọn liên tục vào mọi phía, xa đến một trăm dặm”. Trưởng lão Nāgasena (Tỳ-kheo Na Tiên) đã dùng lối so sánh sau để chỉ sức nóng mãnh liệt biết bao so với ngọn lửa thường: “Đại vương! Hãy nghĩ xem, một khối đá to bằng một ngôi chùa đưa vào ngọn lửa địa ngục sẽ tan chảy chỉ trong chốc lát. Tuy nhiên, chúng sanh bị tái sanh ở đó, vì quả báo của việc làm quá khứ, không bị chết tiêu mà cảm thấy như đang nằm trong thai mẹ”.

Khi cực hình của đại địa ngục A-tỳ giáng xuống đồ tể mổ heo Cunda, hành động của ông ta thay đổi tương xứng với nghiệp quá khứ. Dù còn ở trong nhà, ông ta bắt đầu kêu ủn ỉn như heo và bò bằng tay và đầu gối, bò ra trước nhà rồi bò đến phía sau. Những người trong gia đình áp đảo và bịt miệng ông ta. Nhưng dù họ làm đủ cách (bởi không ai có thể ngăn được quả báo xảy đến cho một người do hành động quá khứ của chính người đó), ông ta vẫn bò tới bò lui và kêu ủn ỉn liên tục như một con heo.

Bảy nhà xung quanh không ai có thể ngủ được. Thân quyến của ông ta khủng khiếp vì sợ chết, không có cách nào khác có thể ngăn ông ta đi ra, họ chặn các cửa và nhốt ông ta ở trong nhà. Xong, họ bao vây nhà và đứng canh Cunda bò tới bò lui trong nhà suốt bảy ngày, chịu sự đau khổ cùng cực của địa ngục, kêu ủn ỉn và rống eng éc như heo.

Qua bảy ngày bò như thế, ông ta chết và bị đọa vào đại địa ngục A-tỳ.

Vài Tỳ-kheo đi ngang qua cửa nhà ông, nghe tiếng eng éc ồn ào, chỉ nghĩ là tiếng của những con heo, họ đi về tinh xá, ngồi một bên đức Đạo sư và bạch:

- Bạch Thế Tôn, trong bảy ngày cửa nhà đồ tể Cunda đóng kín, và suốt bảy ngày vẫn tiếp tục giết heo, chắc chắn ông ta định làm tiệc chiêu đãi. Thế Tôn nghĩ xem, bao nhiêu heo bị giết! Hiển nhiên ông ta không có một chút từ bi và hoàn toàn thiếu lòng trắc ẩn. Thật từ trước tới giờ chúng tôi chưa thấy ai độc ác và man rợ như thế!

Đức Đạo sư nói:

- Này các Tỳ-kheo! Ông ta không giết heo trong bảy ngày qua. Sự trừng phạt phù hợp với việc làm quá khứ của ông ta đã xảy đến bất ngờ đối với ông ta. Ngay khi ông ta còn sống, cực hình của đại địa ngục A-tỳ đã hiển hiện. Vì cực hình này, ông ta bò tới lui trong nhà suốt bảy ngày, kêu la eng éc như một con heo. Hôm nay ông ta chết và bị đọa vào ngục A-tỳ.

Khi đức Phật nói xong, các Tỳ-kheo thưa:

- Bạch Thế Tôn! Đã đau khổ ở đây trong thế gian này, ông ta lại đi đến chỗ đau khổ nữa và tái sanh ở đó.

- Đúng thế, các Tỳ-kheo!

Đức Thế Tôn nói tiếp:

- Người nào sống buông lung, dù cư sĩ hay tu sĩ, đều bị đau khổ ở cả hai nơi.

Nói xong, Ngài đọc Pháp Cú:

(15) Nay sầu, đời sau sầu,
Kẻ ác hai đời sầu,
Nó sầu, nó ưu não,
Thấy nghiệp uế mình làm.

Lời bình: Đức Phật từng dạy: Tâm Từ Bi là gốc cội của Quả Bồ Đề, tạo nghiệp Sát sinh chính là tạo quả Khổ cho đời vị lai. Kẻ đồ tể đang tâm giết hại đi bao nhiêu sinh mạng chỉ vì một hoặc vài sinh mạng gia đình họ. Trong bao nhiêu súc sinh bị giết, biết đâu lại chúng từng là người thân, họ hàng nhiều kiếp trước, chịu tội nghiệp mà họ gây ra, phải chịu Đầu thai làm súc sinh cho con cháu giết mổ, như vậy tầng tầng lớp lớp tội nghiệp chồng chất, oán khí ngút trời biết bao giờ mới giải hết?

Cái giả phải trả khi bắt tay với điều xấu ác


*****************

Sống trong đời, “một cây làm chẳng nên non” nên người ta thường hợp lực, liên minh liên kết lại với nhau. Nhưng có lẽ liên minh tồi tệ và đen đúa nhất trong đời là liên minh ma quỷ. Hợp tác với xấu ác thì không sớm cũng muộn bản thân sẽ gánh lấy hậu quả thảm khốc.

Truyện cổ Phật giáo kể rằng: “Thuở xưa, có một Tỷ-kheo bị tẩn xuất, ảo não buồn rầu, vừa đi vừa than khóc. Dọc đường, Tỷ-kheo ấy gặp một con quỷ vốn phạm pháp cũng bị Tỳ Sa Môn Thiên vương tẩn xuất. Quỷ hỏi vị Tỷ-kheo:

- Vì sao ngài buồn rầu than khóc?

- Tôi vì phạm tội, bị chúng Tăng tẩn xuất, từ đây mất hết sự cúng dường của tín thí, tiếng xấu đồn khắp gần xa nên rất đau khổ, buồn rầu.

Quỷ bảo Tỷ-kheo:

- Tôi có thể làm cho ngài tiếng xấu tiêu tan và được cúng dường nhiều hơn trước. Ngài đứng trên vai của tôi, tôi đội ngài đi giữa hư không, người ta chỉ thấy ngài mà không thấy tôi, và như thế ngài trở nên thần thông quảng đại. Nếu được cúng dường nhiều, ngài phải chia lại cho tôi.

Vị Tỷ-kheo kia đồng ý. Tức thời, quỷ mang vị Tỷ-kheo đi trên hư không đến nơi trước đây bị tẩn xuất. Bấy giờ, mọi người trong vùng trông thấy đều kinh ngạc, cho rằng Tỷ-kheo ấy đã đắc đạo, chứng thần thông, trở lại trách “chúng Tăng vô cớ, tẩn xuất oan uổng một vị tu hành chân chính”.

Họ cùng nhau đưa vị Tỷ-kheo trở lại chùa, cúng dường hậu hĩ. Vị Tỷ-kheo thọ lãnh áo cơm, tài vật cúng dường đều phải chia sớt lại cho quỷ dữ, không dám làm trái lời cam kết trước đây.

Rồi một ngày kia, khi đang cõng vị Tỷ-kheo du hành trong hư không, tình cờ gặp tùy tùng của Tỳ Sa Môn Thiên vương, quỷ kinh hoàng quăng vị Tỷ-kheo, chạy trốn thục mạng. Bị quăng từ trên cao xuống đất, vị Tỷ-kheo thân hình tan nát, chết ngay”.

Chuyện một ác Tỷ-kheo liên minh với ma quỷ, cầu danh vọng, cung kính, lợi dưỡng xem ra cũng khá thú vị và có nhiều điểm đáng bàn. Thực ra thì việc ấy cũng không lạ, vì ngay từ thời Thế Tôn còn tại thế, thời Chánh pháp, đã xảy ra. Đề-bà-đạt-đa vì không kiềm được tâm tham cầu hư danh giáo chủ đã liên minh với hôn quân A-xà-thế (giết cha để soán đoạt ngai vàng) hại Phật, chia rẽ Tăng đoàn. Đề-bà-đạt-đa nghĩ rằng, với sự hỗ trợ của quyền lực tối cao là nhà vua, thì mọi chuyện sẽ vận hành theo ý đồ đen tối của mình nhưng tất cả đều ngược lại, Đề-bà-đạt-đa đã chết thảm, bị chôn vùi bởi một cơn cuồng nộ địa chấn. Chính nghĩa luôn chiến thắng gian tà.

Có lẽ mọi thăng trầm trên đời đều phát xuất từ lòng tham lam, sân hận và si mê. Ngay cả người tu hành nếu chưa chuyển hóa được tham sân si thì cũng không ngoại lệ. Vị Tỷ-kheo kia cũng vì tham nên phạm tội, bị đuổi ra khỏi Tăng đoàn (tẩn xuất), cơ nghiệp tu hành mất trắng. Thay vì thành tâm sám hối, bồi đức chuộc tội, Tỷ-kheo ấy lại si mê liên kết với quỷ ma, tạo hư danh hầu kiếm lợi, mê hoặc không ít tín đồ vốn dĩ cũng sính hư danh.

Kể cũng lạ, người ta hay đánh đồng sự khác thường với phi thường. Hễ nghe ai đó có chút khác thường như biết trước một vài chuyện, ngồi nhiều hơn nằm, nhịn nhiều hơn ăn hoặc đột nhiên xênh xang áo mão nói toàn chuyện… trên trời thì cho rằng đã đắc đạo, phi thường rồi nhắm mắt tung hô, xun xoe cầu cạnh, tận tụy cúc cung. Mấy ai bình tâm để thấy rằng đằng sau những sự khác thường phù phiếm đó có bàn tay lông lá, đen đúa của quỷ dữ. Trong khi sự siêu việt, phi thường của nhà đạo vốn dĩ là sự bình thường (bình thường tâm thị đạo) thì chẳng mấy ai để ý, thậm chí lại xem thường. Có phải vì thế mà người ta thường tìm mọi cách gồng mình cho hoành tráng, bề thế chăng?

Ma quỷ vốn ít có từ tâm nên nhúng tay vào chuyện gì cũng có dụng ý rõ ràng, không bao giờ giúp suông. Phò cho vị ác Tỷ-kheo, bị đuổi ra khỏi Tăng đoàn có uy tín trở lại, thần thông quảng đại, ngất ngưởng trên hư không nhưng kèm theo điều kiện là chia đôi quyền lợi. Vị Tỷ-kheo chỉ nghĩ đến quyền lợi cá nhân mà quên đi sự tồn vong của đạo pháp, quá đam mê danh lợi nên mụ mị không cảnh giác rằng quỷ dữ luôn ác tâm và ích kỷ, sẵn sàng đội lên đầu để thủ lợi nhưng cũng nhanh nhẹn “bỏ của chạy lấy người” khi gặp nguy biến. Vì thế mà vị ác Tỷ-kheo kia bị rơi từ hư không xuống đất chết thảm, thật bi thương.

Lời bình: Sống và tu tập là từng bước đi lên, thăng hoa, kiện toàn tự thân để đạt đến hoàn thiện. Song, phải đi lên từ đôi chân của chính mình. Không dựa dẫm, nương tựa vào bất cứ ai, lại càng nói không với các loài ma mị, ác quỷ. Khi chưa đủ tài đức của hàng Thánh tăng giáo hóa ác quỷ trở thành hộ pháp thì nên chăng “Quỷ thần kính nhi viễn chi”. 


Con chuột trên tháp Phật




Sau một thời gian dài lang thang phiêu bạt, con chuột nọ cuối cùng tìm được một chỗ ở rất thích hợp trên đỉnh tháp trong sân chùa. Nó sung sướng ở lại đây, ngày ngày ra vào thoải mái mà không hề gặp phải nguy cơ nào, lại không lo bị đói vì dưới chân tháp lúc nào cũng đầy đồ lễ lạt. Điều quan trọng nhất khiến con chuột hả hê là hàng ngày, nó đều thấy biết bao nhiêu người, sang trọng có, quyền chức có, đến đây dâng hương lễ Phật, quỳ sụp, rì rầm khấn vái ngay dưới chân mình. 

Trong làn khói hương thơm ngát bay lên nghi ngút, con chuột nằm khểnh vểnh râu đắc chí: “Loài người thật đáng thương, thậm chí họ còn không dám ngẩng mặt lên nhìn thẳng vào tượng Phật, trong khi ta thì ngày nào cũng tự do leo trèo lên đó. Đúng là làm người không bằng làm chuột, ha ha”.

Bỗng nhiên ngày nọ, một con mèo đang đói ngấu xông lên tháp, chỉ một động tác nhẹ nhàng đã tóm gọn con chuột trong những chiếc móng nhọn hoắt. “Ngươi không được ăn thịt ta”, con chuột gào lên trong khi cố giãy giụa, “Ngươi không thấy ta đang ở đâu à? Trên đỉnh tháp Phật, ngươi phải quỳ xuống lạy ta. Không thấy những con người to lớn ở dưới kia đang quỳ mọp trước ta à?”. “Con người quỳ dưới đó, là vì nơi ngươi đang ở, chứ không phải vì bản thân ngươi”, con mèo gừ lên một tiếng, rồi xé con chuột thành hai mảnh.

Lời bình: Trong cuộc sống vốn có rất nhiều người giống con chuột đó, tưởng nơi mình đứng làm nên giá trị của bản thân mình. Cho nên, trong cuộc sống này, đôi khi ngồi lại, bình tâm suy nghĩ địa thế mình đang ở sẽ làm cho ta được sáng suốt hơn, đối nhân xử thể được tròn vẹn hơn, tránh được những sai lầm không đáng có.